Cho vay ngoại tệ: Thận trọng để không bị lợi dụng

Hoàng Yến
Đây là ý kiến của ông Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đông Á, nguyên Thống đốc NHNN trong cuộc trao đổi với PV TBTCO về câu chuyện cho vay ngoại tệ đang được mở rộng để "đỡ" cho tăng trưởng tín dụng chung.
aa

USD

Ảnh minh họa

>> Tăng cho vay ngoại tệ: Con dao hai lưỡi

* Gần đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đã linh hoạt đối với cho vay ngoại tệ để góp phần tăng trưởng tín dụng chung. Ông đánh giá thế nào về điều này?

- Nền kinh tế hiện nay tăng trưởng chủ yếu nhờ xuất khẩu. Xuất khẩu vừa giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập, vừa giải quyết tăng trưởng, thu ngân sách. Khả năng xuất khẩu của chúng ta còn dư địa tốt. Muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải nhập những vật tư thiết bị mới để sản xuất hàng có chất lượng, kể cả hàng nông sản thủy sản cũng như hàng công nghiệp. Vì vậy, cần mở rộng cho vay. Trong khi cho vay nội tệ bị khó khăn nhiều mặt thì việc khuyến khích cho vay ngoại tệ để thúc đẩy xuất khẩu, phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh tế biển là một việc nên làm.

* Thưa ông, cũng có ý kiến cho rằng việc cho vay ngoại tệ có thể tạo rủi ro cho hệ thống khi mà trạng thái ngoại tệ của ngân hàng âm nhiều, tỷ lệ tiền gửi/huy động USD đã hơn 99%?

- Tỷ lệ vốn huy động/cho vay của ngân hàng thương mại đã được đảm bảo bằng dự trữ ngoại tệ. Nếu có biến động, việc của NHNN là hỗ trợ để can thiệp thị trường, đảm bảo ổn định tình hình.

* Vậy điều này có đi ngược lại tiến trình xóa đô la hóa hay không?

- Việc xóa đô la hóa chủ yếu là xóa đô la hóa tiền mặt, chấm dứt hiện tượng mua bán tràn lan, thiếu sự quản lý. Hiện tượng đô la hóa của chúng ta đôi khi trở thành hình thức thanh toán thay tiền Việt nên rất nguy hiểm, làm giảm sự chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ. Còn việc thanh toán quốc tế qua hoạt động xuất nhập khẩu thì phải dùng ngoại tệ, không thể chống đô la hóa bằng cách này. Hoạt động xuất nhập khẩu càng phát triển thì thanh toán quốc tế bằng ngoại tệ càng phát triển, không có vấn đề gì miễn là làm đúng mục đích, đúng yêu cầu thị trường.

Cho vay ngoại tệ: Thận trọng để không bị lợi dụng
Nếu tăng cho vay ngoại tệ không đúng địa chỉ, hoặc bị lợi dụng đầu cơ, lợi dụng chênh lệch lãi suất để quay vòng trục lợi thì sẽ rất nguy hiểm, sẽ phá tỷ giá ngay.   Ông Cao Sĩ Kiêm

* Liệu có ngại việc tăng cho vay ngoại tệ tác động đến tỷ giá hay không, thưa ông?

- Như tôi đã nói, nếu tăng cho vay ngoại tệ tạo ra điều kiện cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy xuất khẩu, hoặc cho vay mua hàng nhập khẩu đúng hàng cần nhập khẩu, là máy móc thiết bị, nguyên liệu để phục vụ sản xuất trong nước thì sẽ không có vấn đề gì. Đó là yếu tố củng cố tỷ giá, tạo sức mua của đồng tiền Việt Nam tốt hơn. Tuy nhiên, nếu tăng cho vay không đúng địa chỉ, hoặc bị lợi dụng làm méo mó, đầu cơ, lợi dụng chênh lệch lãi suất để quay vòng trục lợi thì sẽ rất nguy hiểm, sẽ phá tỷ giá ngay.

* Vậy theo ông, có những vấn đề gì cần lưu ý khi chúng ta nới lỏng cho vay ngoại tệ?

- Nhìn vấn đề cần phải nhìn ở hai mặt. Nếu cho vay đúng địa chỉ, đối tượng, có khả năng tái tạo ngoại tệ thì hoàn toàn tốt. Số lượng tăng lên bao nhiêu không phải là vấn đề, quan trọng là đối tượng cho vay đúng hay không. Còn nếu không đúng, bị lợi dụng, xuất hiện những yếu tố tạo ra buôn bán lòng vòng, đầu cơ trục lợi thì sẽ tạo ra áp lực lạm phát, áp lực rủi ro, giảm hiệu quả chung của DN và nền kinh tế.

Trong cho vay ngoại tệ, việc lợi dụng để kiếm chác, đầu cơ rất dễ xảy ra. Vì vậy, phải kiểm soát rất chặt chẽ, cho vay phải đúng đối tượng, đúng quy trình, có hiệu quả thì nền kinh tế mới phát triển ổn định và bền vững. Tuy chúng ta khuyến khích nhưng vẫn phải đảm bảo đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng quy trình và thông lệ quốc tế.

* Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta có nên tiếp tục đẩy mạnh việc cho vay ngoại tệ để “đỡ” cho tăng trưởng tín dụng chung?

- Việc gì cũng phải có giới hạn. Tăng cho vay phải có điều kiện, ví dụ như cho xuất khẩu theo quy định, hay để nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước, nhập những nguyên liệu máy móc trong nước không có. Đồng thời, cho vay phải đúng và đủ, không phải cần 5 mà cho vay 7 thì sẽ phức tạp tình hình, hoặc cần 5 mà chỉ cho vay 3 thì sẽ kìm hãm sản xuất.

* Xin cảm ơn ông./.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80