Chung tay để thị trường bảo hiểm nhân thọ “tăng chất”

Duy Thái
(TBTCO) - Cùng với sự tăng trưởng nhanh, thời gian qua thị trường bảo hiểm nhân thọ đã nảy sinh một số vấn đề về chất lượng hoạt động tư vấn cho khách hàng, cũng như dịch vụ chăm sóc khách hàng và cả việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm. Thời gian tới, để thị trường này phát triển lành mạnh và bền vững, tăng cường tính minh bạch, cần các giải pháp đồng bộ từ cả phía cơ quan quản lý, sự chung tay vào cuộc thực sự của cả doanh nghiệp bảo hiểm, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và người tham gia bảo hiểm.
aa

Đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam cho rằng, thị trường bảo hiểm Việt Nam có sự phát triển khá ấn tượng trong hơn 1/4 thế kỷ qua, đóng góp nhiều giá trị tích cực vào quá trình đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo vệ sự bình an về tài chính cho người dân, doanh nghiệp Việt Nam.

Bảo hiểm nhân thọ tiếp tục cho thấy vai trò bảo vệ sức khỏe và tài chính trước những rủi ro.
Bảo hiểm nhân thọ tiếp tục cho thấy vai trò bảo vệ sức khỏe và tài chính trước những rủi ro.

Có thể dẫn chứng số liệu cụ thể năm 2022 từ Bộ Tài chính như: Tổng số tiền đầu tư trở lại từ các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) vào nền kinh tế Việt Nam trong năm là 656 nghìn tỷ đồng; chi trả quyền lợi bảo hiểm trên 64 nghìn tỷ đồng.

Riêng ngành bảo hiểm nhân thọ (BHNT) đem lại công ăn việc làm chính đáng, hợp pháp cho hàng trăm ngàn người lao động. “So với lịch sử 440 năm phát triển của ngành BHNT thế giới thì tốc độ tăng trưởng của ngành này tại Việt Nam là khá nhanh” - ông Nguyễn Đức Thắng cho hay.

Theo số liệu từ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, năm 2022, Việt Nam tiếp tục là thị trường BHNT trọng điểm ở châu Á với những kết quả đáng chú ý như: Tổng số tiền chi trả đạt 44.186 tỷ đồng, tăng 34% (so với cùng kỳ năm trước); đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp BHNT đạt 592.811 tỷ đồng, tăng 13,9%; tổng số lượng hợp đồng đạt 13.921.675 hợp đồng, tăng 5%; tổng doanh thu cả năm đạt 178.327 tỷ đồng, tăng 12%.

Năm 2023 được xem là giai đoạn khó khăn, thử thách đối với thị trường BHNT nói riêng, cũng như toàn ngành kinh tế nói chung trước những biến động của thị trường tài chính trong và ngoài nước. Dù vậy, BHNT tiếp tục cho thấy vai trò bảo vệ sức khỏe và tài chính trước những rủi ro, thông qua tổng số tiền chi trả quyền lợi bảo hiểm trong 3 tháng đầu năm 2023 ước đạt 11.534 tỷ đồng, tăng 29,2%.

Trong khi đó, số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp BHNT ước đạt 636.585 tỷ đồng, tăng 17%. Tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp BHNT ước đạt 141.235 tỷ đồng, tăng 21%. Tổng số lượng hợp đồng cuối kỳ ước đạt gần 13,7 triệu hợp đồng, tăng 3,5%. Tổng doanh thu ước đạt 37.849 tỷ đồng.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Đức Thắng, cùng với sự tăng trưởng nhanh, trong thời gian qua, thị trường BHNT đã nảy sinh một số vấn đề về chất lượng hoạt động tư vấn cho khách hàng, cũng như dịch vụ chăm sóc khách hàng và cả việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng.

Cùng với đó là việc hình thành thêm nhiều kênh phân phối, nếu như trước đây chỉ có kênh đại lý tư vấn bảo hiểm, nay còn có thêm kênh phân phối qua ngân hàng, đại lý tổ chức… Điều đó cũng khiến hoạt động khai thác của BHNT trở nên đa dạng và cũng phức tạp hơn.

“Những điều này là nguồn cơn nảy sinh các sự việc gây tranh cãi, khiến người tham gia bảo hiểm hoang mang, lo lắng. Cùng với sức mạnh của các công cụ mạng xã hội, truyền thông mạng đã khiến mọi việc bị đẩy đi xa hơn bản chất của nhiều vấn đề ban đầu” – ông Thắng nói.

Cần sự chung tay để thị trường bảo hiểm nhân thọ “tăng chất”

Mới đây, Văn phòng Chính phủ đã có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái tại cuộc họp về tình hình triển khai cung cấp dịch vụ BHNT thời gian qua. Trong đó, Phó Thủ tướng đã yêu cầu khẩn trương hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 và các văn bản hướng dẫn có liên quan, trong đó nghiên cứu, bổ sung các quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của DNBH trong việc nâng cao chất lượng của đại lý bảo hiểm, giám sát hoạt động tư vấn của đại lý, bảo đảm minh bạch thông tin với khách hàng.

Đồng thời, lãnh đạo Chính phủ yêu cầu nghiên cứu việc sửa đổi, bổ sung nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm để phù hợp với các quy định hiện hành và triệt để khắc phục những bất cập trong triển khai BHNT trong thời gian qua.

“Tiếp tục yêu cầu các DNBH khẩn trương rà soát tổng thể quy trình nghiệp vụ, bảo đảm việc triển khai đúng quy định, thực hiện tiếp nhận và xử lý kịp thời các phản ánh của người dân về hợp đồng bảo hiểm, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm” - kết luận của Phó Thủ tướng nêu rõ.

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng tăng mạnh

Theo số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, có gần 1 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (BHNT) đã bán qua kênh ngân hàng năm 2022 với tổng phí năm đầu lên gần 23.800 tỷ đồng, chiếm 46% doanh số khai thác mới của kênh BHNT. Tính lũy kế đến hết năm 2022, có khoảng 2,9 triệu hợp đồng BHNT mua kênh ngân hàng với doanh số khai thác là 45.000 tỷ đồng.

Trước đó, trao đổi với phóng viên, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho biết, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách liên quan đến sản phẩm bảo hiểm, công khai, minh bạch thông tin về sản phẩm và DNBH. Người dân có thể dễ dàng tiếp cận thông tin khi tìm hiểu, lựa chọn cho mình sản phẩm bảo hiểm phù hợp.

Mặt khác, cơ quan quản lý sẽ yêu cầu rà soát, tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp BHNT và tiến hành xử lý nghiêm minh nếu phát hiện các trường hợp đại lý bảo hiểm vi phạm quy định pháp luật.

Về phía các DNBH, cơ quan quản lý đã yêu cầu rà soát lại các sản phẩm bảo hiểm, đơn giản hóa quy tắc, điều khoản, tăng cường việc công khai, minh bạch thông tin về sản phẩm bảo hiểm và hoạt động của DNBH, để người dân có đủ thông tin toàn diện, khách quan, hiểu đúng về sản phẩm bảo hiểm và hoạt động của DNBH.

Cùng với đó, các doanh nghiệp cũng phải rà soát, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, quy định nội bộ, chính sách về quản trị rủi ro, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật. Mặt khác, cần thường xuyên đào tạo, đào tạo lại, nâng cao chất lượng đào tạo các đại lý để tăng chất lượng tư vấn và dịch vụ khách hàng.

Đối với khách hàng tham gia bảo hiểm, cần tìm hiểu kỹ quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ cho chính mình, đồng thời giảm thiểu tranh chấp phát sinh về sau. Về phía Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, cần phối hợp với cơ quan quản lý tăng cường hơn nữa tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bảo hiểm, cũng như xây dựng, thực hiện chương trình tuyên truyền tổng thể của lĩnh vực bảo hiểm.

Đồng thời, hiệp hội cần xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp giữa các DNBH để kịp thời xử lý các đại lý bảo hiểm vi phạm, góp phần đảm bảo kỷ luật, kỷ cương của thị trường bảo hiểm và bảo vệ các đại lý chuyên nghiệp; xây dựng các quy chế, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đối với hoạt động đại lý, tư vấn bảo hiểm…

Chấn chỉnh tình trạng “ép buộc” khách hàng mua bảo hiểm qua ngân hàng

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam rà soát, làm rõ thông tin phản ánh về các tồn tại, bất cập có liên quan đến đại lý bảo hiểm độc quyền tại ngân hàng; tình trạng ép buộc, lôi kéo khách hàng của ngân hàng tham gia bảo hiểm; có biện pháp chấn chỉnh, không để tạo dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành Ngân hàng và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của khách hàng. Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính trong việc thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua ngân hàng.

Duy Thái

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch năm. Sau quá trình tái cơ cấu danh mục nghiệp vụ, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trở lại 14%; đồng thời, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gấp đôi cùng kỳ, nhờ tối ưu danh mục đầu tư gần 4.600 tỷ đồng.
ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - ABBank đang lấy ý kiến cổ đông về phương án tăng vốn điều lệ từ 16.067,8 tỷ đồng lên 26.833,3 tỷ đồng, tăng 67%. Đáng chú ý, ngân hàng đề xuất tăng gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu lên hơn 8.033 tỷ đồng với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, đồng thời bổ sung phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ 100:12.
PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

(TBTCO) - Khi thế hệ tích sản tại Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi không phải “làm sao để có nhiều hơn” mà là “làm sao để những gì mình tạo dựng không bị mất đi”, sản phẩm bảo hiểm liên kết chung PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 (“PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0”) của Prudential Việt Nam là giải pháp được thiết kế để tối đa bảo toàn và trao truyền di sản cho thế hệ kế tiếp, góp phần đồng hành cùng khách hàng trên hành trình gìn giữ những điều quý giá và chuẩn bị cho tương lai dài hạn.
Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ "treo" ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng "bộ đệm" rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.
Đề xuất cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác đối với một số đối tượng

Đề xuất cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác đối với một số đối tượng

(TBTCO) - Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số luật thuộc lĩnh vực ngân hàng đề xuất bổ sung quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác so với mức quy định đối với đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 42 USD/ounce lên 4.076 USD/ounce. Ở thị trường trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến phân hóa giữa các doanh nghiệp kinh doanh.
Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 29 ngân hàng đạt 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Vietcombank tiếp tục giữ "ngôi vương" lợi nhuận, VPBank lần đầu lọt Top 5 nhờ lãi tăng cao nhất nhóm ngân hàng lớn. Ngược lại, 6/29 nhà băng hụt hơi lợi nhuận. Bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026 có nhiều xáo trộn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 ▲600K 142,500 ▲800K
Hà Nội - PNJ 138,500 ▲600K 142,500 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 ▲600K 142,500 ▲800K
Miền Tây - PNJ 138,500 ▲600K 142,500 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 ▲600K 142,500 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 ▲600K 142,500 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▲90K 14,270 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▲90K 14,270 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▲90K 14,270 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▲90K 14,270 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▲90K 14,270 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▲90K 14,270 ▲90K
NL 99.99 13,100 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲100K
Trang sức 99.9 13,580 ▲90K 14,180 ▲90K
Trang sức 99.99 13,590 ▲90K 14,190 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▲9K 14,272 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▲9K 14,273 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▲9K 1,422 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▲9K 1,423 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▲9K 1,407 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▲891K 139,307 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▲86365K 105,686 ▲95185K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▲612K 95,836 ▲612K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▲549K 85,986 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▲524K 82,186 ▲524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▲376K 58,828 ▲376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▲9K 1,427 ▲9K
Cập nhật: 06/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17942 18216 18793
CAD 18208 18484 19106
CHF 31762 32143 32799
CNY 0 3846 3940
EUR 29648 29869 30950
GBP 34515 34907 35839
HKD 0 3214 3416
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15123 15708
SGD 19922 20204 20777
THB 709 772 825
USD (1,2) 25972 0 0
USD (5,10,20) 26012 0 0
USD (50,100) 26041 26055 26425
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,040 26,040 26,420
USD(1-2-5) 24,999 - -
USD(10-20) 24,999 - -
EUR 29,685 29,709 31,112
JPY 161.64 161.93 171.72
GBP 34,664 34,758 35,959
AUD 18,123 18,188 18,876
CAD 18,364 18,423 19,101
CHF 32,044 32,144 33,086
SGD 20,032 20,094 20,888
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,276 3,286 3,424
KRW 16.92 17.65 19.2
THB 756.71 766.06 819.64
NZD 15,064 15,204 15,653
SEK - 2,722 2,817
DKK - 3,981 4,122
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.25 - 6,765.46
TWD 733.28 - 888.27
SAR - 6,864.63 7,230.04
KWD - 83,104 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,025 26,045 26,425
EUR 29,749 29,868 31,065
GBP 34,707 34,846 35,879
HKD 3,276 3,289 3,407
CHF 31,981 32,109 33,042
JPY 162.28 162.93 170.87
AUD 18,162 18,235 18,834
SGD 20,135 20,216 20,812
THB 773 776 813
CAD 18,391 18,465 19,051
NZD 15,204 15,751
KRW 17.68 19.65
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26055 26055 26415
AUD 18121 18221 19147
CAD 18375 18475 19489
CHF 32008 32038 33616
CNY 3826.9 3851.9 3987.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29821 29851 31574
GBP 34795 34845 36600
HKD 0 3355 0
JPY 162.69 163.19 173.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15220 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20079 20209 20940
THB 0 738.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13970000 13970000 14270000
SBJ 12500000 12500000 14270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,074 26,124 26,450
USD20 26,024 26,124 26,654
USD1 25,974 26,124 26,704
AUD 18,218 18,318 19,423
EUR 29,675 29,775 31,434
CAD 18,332 18,432 19,741
SGD 20,190 20,340 21,554
JPY 163.46 164.96 170.62
GBP 34,740 34,890 35,957
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 774 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80