Đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Hà My
(TBTCO) - 5 tháng đầu năm 2023, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam tiếp tục thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước và thế giới. Với nỗ lực cao nhất, toàn ngành đã vượt khó, hoàn thành tốt các chỉ tiêu và đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm.
aa

Khoảng 17,47 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Phát biểu tại buổi họp báo chiều ngày 5/6, ông Nguyễn Thế Mạnh - Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho biết, trong 5 tháng đầu năm, công tác thu, phát triển người tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) đạt kết quả tích cực và tăng so với cùng kỳ năm 2022.

Đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh phát biểu tại họp báo. Ảnh: LV

Cụ thể, hiện có khoảng 17,47 triệu người tham gia BHXH, chiếm 37,48% lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2022. Đặc biệt, ngành BHXH đã linh hoạt triển khai nhiều giải pháp phát triển người tham gia BHYT và đạt kết quả tích cực với khoảng 90,69 triệu người tham gia (tăng 4,43 triệu người so với cùng kì năm 2022). Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN ước đạt 178.772 tỷ đồng.

Theo ông Nguyễn Thế Mạnh, kết quả phát triển người tham gia BHYT trong 5 tháng đầu năm là những con số rất ấn tượng, thể hiện sự phát triển và bao phủ bền vững của BHYT. Với đà phát triển như hiện tại, tin tưởng rằng, đến cuối năm, ngành BHXH sẽ đạt mục tiêu trên 93% dân số tham gia BHYT mà Đảng và Chính phủ giao.

Bên cạnh đó, công tác giải quyết chế độ, chính sách BHXH, BHYT cũng đạt được những kết quả nổi bật. Mặc dù số người hưởng các chế độ BHXH đều tăng, nhưng việc giải quyết, chi trả chế độ, chính sách BHXH, BHTN luôn được đảm bảo đầy đủ, kịp thời tới từng người tham gia, thụ hưởng, qua đó đã góp phần hỗ trợ, ổn định cuộc sống của người lao động, đặc biệt là trong bối cảnh việc làm, thu nhập của người dân gặp nhiều khó khăn sau đại dịch Covid-19.

Trong 5 tháng đầu năm, ngành BHXH Việt Nam giải quyết 26.014 hồ sơ hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 547.989 người hưởng các chế độ BHXH một lần; giải quyết 3.638.974 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Ngành đã phối hợp với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội giải quyết 376.023 người hưởng các chế độ BHTN; trong đó 368.028 người hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp và 7.995 người hưởng chế độ hỗ trợ học nghề.

Ngoài ra, ngành đã thực hiện tốt công tác tác giải quyết, chi trả chế độ, đảm bảo quyền lợi BHYT cho 69,7 triệu lượt người khám chữa bệnh BHYT, tương ứng số chi KCB BHYT là 47.466 tỷ đồng. Đặc biệt, BHXH Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế, Bộ Tài chính thực hiện xử lý nhiều vướng mắc trong thanh toán chi phí KCB BHYT, đảm bảo quyền lợi của người bệnh BHYT và kinh phí hoạt động của các cơ sở KCB. Theo đó, tình trạng thiếu thuốc tại các cơ sở KCB BHYT và khó khăn vướng mắc trong sử dụng trang thiết bị y tế, thanh toán chi phí dịch vụ kỹ thuật thực hiện từ các trang thiết bị này cơ bản được giải quyết.

Các cơ sở khám chữa bệnh được đảm bảo đầy đủ kinh phí để mua sắm thuốc

Tại buổi họp báo, trả lời câu hỏi về một số cơ sở khám chữa bệnh (KCB) BHYT phản ánh thiếu kinh phí để mua sắm, đấu thầu thuốc men, vật tư, hóa chất do bị cơ quan BHXH treo thanh toán, ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHYT cho biết, điều này không đúng thực tế.

Đảm bảo tối đa quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Ông Lê Văn Phúc - Trưởng Ban Thực hiện chính sách BHYT trả lời các câu hỏi. Ảnh: LV

Ông Phúc cho biết, theo quy định của Luật BHYT, cơ quan BHXH Việt Nam thực hiện tạm ứng và thanh quyết toán hàng quý theo đề nghị chi của quý trước và cơ quan BHXH luôn luôn thực hiện đúng và nhắc nhở các địa phương, theo dõi, thậm chí là theo dõi trực tiếp tại BHXH Việt Nam những trường hợp tạm ứng thiếu để chấn chỉnh kịp thời. Đến thời điểm này việc tạm ứng thiếu với địa phương cơ bản đã không còn xảy ra nữa và các cơ sở KCB đều được đảm bảo đầy đủ kinh phí để mua sắm thuốc.

Ngoài ra, cơ quan BHXH luôn luôn phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế trong việc tham gia đấu thầu thuốc, nhắc nhở những địa phương chuẩn bị hết hạn kết quả lựa chọn nhà thầu có văn bản đề nghị chuẩn bị trước đó nửa năm để có thuốc kịp thời với các cơ sở KCB.

“Do vậy, không có chuyện vì cơ quan BHXH treo thanh toán mà không có tiền mua sắm thuốc, vật tư y tế phục vụ công tác KCB BHYT” - ông Phúc khẳng định.

Liên quan tới vụ trục lợi BHXH, BHYT trong việc cấp khống giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH tại Đồng Nai, ông Phúc thông tin, việc cấp giấy chứng nhận nghỉ việc không đúng quy định đã xảy ra ở 2 loại cơ sở KCB: có hợp đồng với cơ quan BHXH và không có hợp đồng với cơ quan BHXH.

Theo ông Phúc, ở đây có sự cấu kết, bắt tay giữa cơ sở KCB và người lao động, làm khống hồ sơ để trục lợi. Cơ quan BHXH phát hiện ra và chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra làm rõ. Đồng thời, có văn bản sang Bộ Y tế chỉ đạo các cơ sở KCB triển khai đúng quy định về giám định BHYT, tránh trường hợp xảy ra như ở Đồng Nai.

Thường xuyên rà soát, cắt giảm hồ sơ, thủ tục không cần thiết

Với phương châm lấy người dân làm trung tâm phục vụ, BHXH Việt Nam luôn coi trọng và ưu tiên tập trung nguồn lực cho công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin. Ngành thường xuyên rà soát, cắt giảm hồ sơ, thủ tục không cần thiết, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp khi giao dịch với cơ quan BHXH; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số toàn diện; 100% thủ tục hành chính được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình và tích hợp trên Cổng dịch vụ công BHXH Việt Nam, từng bước tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia; đa dạng hình thức tiếp nhận hồ sơ vì sự hài lòng của tổ chức, cá nhân tham gia, thụ hưởng chính sách.

Hà My

Đọc thêm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

(TBTCO) - Sun Life Việt Nam vừa chính thức công bố chương trình Hoops + Health năm 2026 - một dự án cộng đồng quy mô khu vực châu Á do Sun Life và tổ chức Beyond Sport đồng sáng lập - khẳng định cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy lối sống năng động và xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững cho thanh thiếu niên châu Á thông qua bộ môn bóng rổ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Kim TT/AVPL 17,380 ▲180K 17,680 ▲180K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Nguyên Liệu 99.99 15,920 ▼30K 16,120 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,870 ▼30K 16,070 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 ▼30K 17,170 ▼30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 ▼30K 17,120 ▼30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 ▼30K 17,100 ▼30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,840 ▲180K 17,540 ▲180K
Trang sức 99.99 16,850 ▲180K 17,550 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 ▲18K 17,672 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 ▲18K 17,673 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 ▲18K 1,765 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 ▲18K 1,766 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 ▲18K 175 ▼1557K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 ▲1782K 173,267 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 ▲1350K 131,413 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 ▲1224K 119,162 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 ▲1098K 106,911 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 ▲1049K 102,185 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 ▲750K 73,132 ▲750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cập nhật: 01/04/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17747 18020 18593
CAD 18428 18705 19321
CHF 32553 32937 33581
CNY 0 3470 3830
EUR 29903 30176 31204
GBP 34212 34603 35537
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14876 15458
SGD 19981 20264 20793
THB 723 787 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80