Dẫn lối tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lời giải cho bài toán doanh nghiệp nhỏ gặp khó khi vay vốn không chỉ nằm ở phía ngân hàng, mà còn phụ thuộc vào chính doanh nghiệp. Trong khi hệ thống ngân hàng cần linh hoạt hơn trong xét duyệt, phát triển sản phẩm tài chính "may đo" phù hợp hơn thì doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cần chủ động nâng cao năng lực tài chính, minh bạch hóa hoạt động.
aa
Dẫn lối tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Ảnh minh họa

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nêu thực tế, hiện nay, các ngân hàng thương mại có xu hướng tập trung cho vay doanh nghiệp lớn, bởi áp lực doanh thu và yêu cầu kiểm soát rủi ro là rất lớn. Chỉ khoảng 30 - 35% doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận vốn vay ngân hàng do hạn chế về tài sản thế chấp.

Doanh nghiệp nhỏ gặp khó khi vay vốn

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Đức Hoàn - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư và sản xuất Thái Hưng (Công ty Thái Hưng), doanh nghiệp chuyên sản xuất và cung cấp các sản phẩm bao bì đóng gói cho các doanh nghiệp FDI cho biết, cuối năm vừa qua, công ty đã hoàn thiện nhà máy mới tại Bắc Ninh nhờ khoản vay từ một ngân hàng quốc doanh lớn.

Cùng liên kết, sát cánh để tiếp cận vốn dễ dàng hơn

"Chúng tôi kêu gọi rất nhiều, DN có thể tổng hợp sơ lược hồ sơ, Hiệp hội sẽ giới thiệu cho các doanh nghiệp, ngân hàng cũng sẽ yên tâm hơn trong việc cấp tín dụng. Chúng ta phải liên kết, sát cánh với nhau, chứ không phải lọ mọ đi vay, bởi khi không đủ điều kiện, ngân hàng khó cho vay. Ngoài kênh vay vốn từ ngân hàng, các DN nhỏ và vừa có thể tận dụng nhiều phương án huy động vốn khác từ các quỹ" - ông Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Từ kinh nghiệm vay vốn các ngân hàng, lãnh đạo Công ty Thái Hưng chia sẻ, các ngân hàng rất thận trọng trong việc xét duyệt khoản vay, tập trung tìm kiếm những doanh nghiệp có tiềm lực tốt, khả năng hấp thụ vốn cao và quản lý tài chính minh bạch. Nhiều ngân hàng quốc doanh áp dụng mức lãi suất cho vay thấp hơn so với thị trường nhưng lại rất kén chọn khách hàng, họ chỉ cấp tín dụng ở mức an toàn. Chẳng hạn, với tài sản thế chấp là bất động sản trị giá 20 tỷ đồng, ngân hàng chỉ giải ngân khoảng 14 tỷ đồng, đảm bảo tỷ lệ vay hợp lý và hạn chế rủi ro.

Bên cạnh đó, để thu hút khách hàng, các ngân hàng thường đưa ra các sản phẩm cho vay lãi suất hấp dẫn ban đầu, có thể cố định trong ngắn hạn, sau đó áp dụng biên độ thả nổi hoặc kèm theo các khoản phụ phí khác. "Do đó, các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lưỡng các sản phẩm tín dụng của từng ngân hàng để chọn được đối tác phù hợp, đáng tin cậy, đồng hành lâu dài" - ông Hoàn lưu ý.

Theo ông Hoàn, việc lựa chọn ngân hàng và sản phẩm vay phù hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội tại của doanh nghiệp. Thứ nhất, nhu cầu sử dụng vốn. Doanh nghiệp cần xác định rõ mục đích vay để đảm bảo dòng vốn được sử dụng hiệu quả. Thứ hai, hiệu quả sử dụng vốn. "Lãi suất vay không phải lúc nào cũng là yếu tố quyết định. Có những doanh nghiệp dù có lợi nhuận cao vẫn vay thêm để mở rộng, trong khi một số khác dù lãi suất thấp vẫn không vay vì chưa biết cách tận dụng nguồn vốn hiệu quả” - ông Hoàn bày tỏ.

Thứ ba tài sản thế chấp. Việc có tài sản đảm bảo phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các khoản vay với điều kiện tốt hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thiếu tài sản thế chấp vẫn là trở ngại lớn nhất khiến doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận vốn ngân hàng.

Cũng theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều hạn chế về tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh, khiến khả năng tiếp cận vốn từ ngân hàng trở nên khó khăn hơn. Một số ngân hàng áp dụng hình thức cho vay dựa trên tài sản hình thành trong tương lai, song triển khai còn rất hạn chế.

Xem xét cơ chế cho vay linh hoạt hơn

Thời gian qua, ngành ngân hàng triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ như: điều chỉnh lãi suất, cơ cấu nợ do ảnh hưởng dịch bệnh, thiên tai, đặc biệt ưu tiên, ưu đãi lãi suất khu vực nông nghiệp, nông thôn và hợp tác xã. Tuy nhiên, theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong khi tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 15%, dư nợ tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ tăng khoảng 10 - 11%, cho thấy doanh nghiệp nhỏ vẫn gặp nhiều rào cản trong tiếp cận vốn.

Cũng cần lưu ý, việc cho vay tràn lan mà không kiểm soát rủi ro có thể dẫn đến nợ xấu gia tăng, gây nguy hiểm cho hệ thống ngân hàng. Do đó, các tổ chức tín dụng thường lựa chọn kỹ lưỡng đối tác để hợp tác, thay vì cấp vốn ồ ạt cho các doanh nghiệp đang gặp khó khăn hoặc tiềm ẩn nguy cơ mất thanh khoản.

Để thúc đẩy mạnh hơn tín dụng cho doanh nghiệp quy mô nhỏ, nhiều ý kiến cho rằng, ngân hàng có thể xem xét cơ chế cho vay tín chấp và khuyến khích ngân hàng thương mại linh hoạt hơn trong việc cấp vốn.

Trong trường hợp vay vốn đơn lẻ khó khăn, ông Nguyễn Văn Thân kiến nghị, để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần có sự liên kết chặt chẽ giữa Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa với các ngân hàng, qua đó, giúp kết nối và tạo dựng niềm tin, giúp nhóm doanh nghiệp này dễ tiếp cận nguồn vốn hơn.

Tuy nhiên, cũng theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, để thực sự nâng cao khả năng tiếp cận vốn, bản thân doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực bằng việc ứng dụng khoa học công nghệ và tăng cường liên kết với nhau.

Cùng với đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần xây dựng báo cáo tài chính minh bạch, có kiểm toán độc lập để tạo niềm tin với ngân hàng, chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh đồng bộ với các kế hoạch tác nghiệp khác và phương án sử dụng vốn hiệu quả để thuyết phục ngân hàng.

Ở phía ngân hàng, cần xây dựng các gói tín dụng linh hoạt, phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa như: khoản vay tín chấp dựa trên dòng tiền kinh doanh, khoản vay theo hợp đồng đầu ra hoặc khoản vay dựa trên tài sản hình thành từ vốn vay. Ngoài ra, cần mở rộng mô hình đánh giá tín dụng dựa trên dữ liệu giao dịch thực tế của doanh nghiệp thay vì chỉ tập trung vào tài sản đảm bảo.

Gần 7 triệu tỷ đồng cho vay tư nhân, doanh nghiệp nhỏ vẫn gặp khó

Theo Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú, tính đến cuối năm 2024, dư nợ tín dụng dành cho doanh nghiệp tư nhân tại các tổ chức tín dụng đạt gần 7 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 14,7% so với năm 2023 và chiếm 44% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Trong đó, có 100 tổ chức tín dụng có dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, với tổng dư nợ đạt 2,74 triệu tỷ đồng, tăng 10,7% và chiếm 17,6% tổng dư nợ.

Hiện còn 208.992 doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn dư nợ tại ngân hàng, cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đang góp phần quan trọng vào việc duy trì sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân có sự phát triển mạnh mẽ, song theo Phó Thống đốc, doanh nghiệp vẫn đối diện nhiều thách thức. Phần lớn doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và vừa, hạn chế về tiềm lực tài chính, công nghệ, khả năng quản trị và sức cạnh tranh. Đây cũng là rào cản chính khiến doanh nghiệp tư nhân gặp khó trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

Theo TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam, hiện nay, các chính sách phát triển kinh tế tư nhân vẫn chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp đăng ký chính thức, đặc biệt là các tập đoàn tư nhân lớn. Thời gian tới, cần có những chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn đối với các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp cỡ vừa, cũng như các hộ kinh doanh cá thể, cơ sở kinh tế phi chính thức. Việc phát triển đồng bộ các chủ thể kinh tế này sẽ có ý nghĩa quan trọng không kém so với việc nâng cao vai trò của các tập đoàn tư nhân lớn, tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80