Đề xuất bổ sung 20.695 tỷ đồng vốn nhà nước cho Vietcombank

Dương An
(TBTCO) - Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) nhất trí phương án bổ sung 20.695 tỷ đồng vốn nhà nước cho Ngân hàng Vietcombank nhằm nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng, bảo đảm các tỷ lệ an toàn và hướng tới chuẩn mực quốc tế, mở rộng hoạt động tín dụng.
aa

Chiều 24/9, UBTVQH đã cho ý kiến về việc đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank - VCB) thông qua hình thức chia cổ tức bằng cổ phiếu từ nguồn lợi nhuận còn lại.

VCB dự kiến đầu tư 17.155 tỷ đồng cho công nghệ, chuyển đổi số

Trình bày tờ trình của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng cho biết, việc đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại VCB là rất cấp thiết nhằm đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định; giúp VCB có tiềm lực để thực thi các chính sách của Nhà nước và hỗ trợ nền kinh tế.

Việc đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại VCB từ nguồn lợi nhuận còn lại năm 2021 cũng là phù hợp với chủ trương được Quốc hội và Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 43/2022/QH15, Nghị quyết số 11/NQ-CP.

Đề xuất bổ sung 20.695 tỷ đồng vốn nhà nước cho Vietcombank
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng trình bày tại phiên họp

Đây là điều kiện cần thiết để VCB có đủ nguồn lực hỗ trợ tái cơ cấu tổ chức tín dụng (TCTD) yếu kém được Chính phủ, NHNN giao, đảm bảo an toàn hệ thống, góp phần vào sự phát triển lành mạnh và ổn định của ngành ngân hàng, nền kinh tế. Chính phủ đã có Nghị quyết về việc VCB sẽ nhận chuyển giao Ngân hàng Xây dựng, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho hay.

Theo số liệu báo cáo tài chính riêng lẻ đã kiểm toán, tổng tài sản của VCB trong giai đoạn 5 năm (2019-2023) tăng trưởng với mức bình quân từ 10,6%/năm đến 14,6%/năm. Tỷ lệ nợ xấu năm 2023 là 0,99%.

Lợi nhuận trước thuế bình quân giai đoạn 2021 - 2023 tăng 26%/năm. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, vốn chủ sở hữu (ROA, ROE) bình quân ở mức xấp xỉ ở mức 1,6% và 23%. Nhiều năm gần đây, VCB được Chủ sở hữu (NHNN) đánh giá xếp loại A

Theo báo cáo của VCB, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) riêng lẻ của VCB tại 31/12/2023 là 11,05%, CAR hợp nhất của VCB là 11,39%. Tỷ lệ này hiện đảm bảo tuân thủ quy định tại Điều 138 Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD).

Tuy nhiên, tính toán này bao gồm cả phần lợi nhuận mà VCB đang giữ lại sau khi đã nộp thuế và trích lập các quỹ luỹ kế đến 2018 và giai đoạn 2021-2023. Đây là mức thấp so với các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam, cũng như trong khu vực Châu Á và Đông Nam Á.

Với vai trò định hướng là chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường, VCB hướng tới mục tiêu CAR đạt 12% năm 2024, 13% năm 2025 và 13,5% năm 2026.

Để đạt được các mục tiêu này, mức vốn tự có thiếu hụt giai đoạn 2024-2026 của VCB là 118.166 tỷ đồng. Trường hợp không được sử dụng nguồn lợi nhuận còn lại để trả cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thì mức vốn tự có thiếu hụt giai đoạn 2024 - 2026 là 125.435 tỷ đồng, khi đó tỷ lệ vốn cấp 1 và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) giảm xuống mức 5,64% và 6,28% thấp hơn mức yêu cầu tối thiểu theo quy định của Luật Các TCTD.

Từ nhu cầu cấp thiết trên, VCB đề xuất cho phép được sử dụng lợi nhuận còn lại sau thuế, sau trích lập để tăng vốn điều lệ thông qua hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu. VCB dự kiến tăng vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận còn lại lũy kế đến hết năm 2018 (là phần lợi nhuận còn lại của các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 chưa được xử lý) và lợi nhuận còn lại năm 2021 với tổng số tiền 27.666 tỷ đồng, trong đó phần vốn bổ sung của cổ đông Nhà nước là 20.695 tỷ đồng.

Phần vốn điều lệ tăng thêm này VCB dự kiến sử dụng để đầu tư cơ sở vật chất, trụ sở làm việc là 9.526 tỷ đồng, đầu tư cho công nghệ thông tin, chuyển đổi số 17.155 tỷ đồng; mở rộng hoạt động kinh doanh 985 tỷ đồng.

Đề xuất bổ sung 20.695 tỷ đồng vốn nhà nước cho Vietcombank
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh trình bày báo cáo thẩm tra

Tỷ lệ đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh rất thấp

Thẩm tra nội dung này, Thường trực Ủy ban Kinh tế cơ bản nhất trí với đề xuất nêu trên của Chính phủ. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị bổ sung thêm ý kiến của cổ đông chiến lược nước ngoài là Ngân hàng Mizuho Corporate Bank hiện đang nắm giữ 15% vốn điều lệ của VCB, bảo đảm sự đồng thuận, khả thi trong quá trình thực hiện tăng vốn điều lệ.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh đề nghị cần làm rõ sự phù hợp giữa kế hoạch sử dụng vốn với mục đích tăng vốn điều lệ, bởi tỷ lệ đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh là rất thấp (985 tỷ đồng) so với đầu tư cơ sở vật chất là 9.526 tỷ đồng, đầu tư cho công nghệ thông tin và chuyển đổi số là 17.155 tỷ đồng.

Cũng theo cơ quan thẩm tra, cần làm rõ sự phù hợp của nguồn lợi nhuận đề xuất với căn cứ là Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội (Nghị quyết 43/2022/QH15quy định tăng vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận sau thuế, sau trích lập các quỹ giai đoạn 2021-2023).

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh, có ý kiến cho rằng Nghị quyết 43/2022/QH15 đã được đánh giá, tổng kết. Còn Nghị quyết 110/2024/QH15 chỉ cho phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân vốn đầu tư từ NSNN bố trí cho các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội đến hết ngày 31/12/2024. Do vậy, cần cân nhắc việc căn cứ vào Nghị quyết 43 để xác định nguồn bổ sung vốn nhà nước tại VCB.

Cho ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng, cần có đánh giá tác động kỹ lưỡng, thấu đáo đối với hiệu quả việc đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại VCB, trong đó cần lưu ý tác động tới các chính sách của ngân hàng, tới sự phát triển của ngành ngân hàng và hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư. Tán thành đưa nội dung này vào Nghị quyết chung của Kỳ họp thứ 8, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, báo cáo Quốc hội trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các cơ quan hữu quan.

Kết luận nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định cho biết, UBTVQH nhất trí sự cần thiết, mức vốn và phương án bổ sung vốn nhà nước tại VCB với các nội dung như trong tờ trình của Chính phủ và các tài liệu kèm theo nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, nghị quyết của Quốc hội, nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng, mở rộng hoạt động tín dụng…/.

Dương An

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80