Đồng đô la Mỹ sụt giảm mang lại lợi ích cho các tài sản rủi ro trên toàn cầu

(TBTCO) - Lạm phát của Mỹ hạ nhiệt đang đẩy nhanh đà giảm giá của đồng đô la, với mức giảm khoảng gần 13% so với rổ tiền tệ, từ mức cao nhất trong hai thập kỷ vào năm ngoái và đứng ở mức thấp nhất trong 15 tháng. Do đồng đô la là trụ cột của hệ thống tài chính toàn cầu, nhiều loại tài sản sẽ được hưởng lợi nếu đồng tiền này tiếp tục giảm giá.
aa
Đồng đô la Mỹ sụt giảm mang lại lợi ích cho các tài sản rủi ro trên toàn cầu
Các ngân hàng đầu tư đang dự báo đồng đô la sẽ tiếp tục giảm sau dữ liệu lạm phát của Mỹ bất ngờ hạ nhiệt vào tuần trước. Ảnh: Bloomberg

Các ngân hàng ở Phố Wall từ bỏ đặt cược đồng đô la tăng giá

Các ngân hàng đầu tư lớn đang giảm giá đồng đô la nhiều hơn khi triển vọng ngày càng tăng về một cuộc hạ cánh kinh tế “mềm” sẽ làm giảm nhu cầu tăng lãi suất hơn nữa của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).

Morgan Stanley, JPMorgan Chase, Goldman Sachs và HSBC nằm trong số những ngân hàng đã loại bỏ các chiến dịch tăng giá đồng đô la hoặc dự báo sự sụt giảm hơn nữa đối với tiền tệ này sau sự sụt giảm bất ngờ của lạm phát tại Mỹ.

Đồng tiền của Mỹ đã giảm xuống mức thấp nhất trong 15 tháng so với chỉ số của các đồng tiền khác sau số liệu lạm phát được công bố vào thứ Tư tuần trước, củng cố kỳ vọng FED có thể sớm kết thúc chiến dịch thắt chặt tiền tệ mà không khiến nền kinh tế lớn nhất thế giới rơi vào suy thoái.

Các thương nhân được khích lệ bởi số liệu lạm phát tương đối ổn định của tháng 6 đang ngày càng lạc quan rằng, nền kinh tế Mỹ sẽ tránh được suy thoái hoàn toàn. Chỉ 1/5 số nhà đầu tư hiện nay mong đợi một cuộc “hạ cánh cứng” khi tăng trưởng kinh tế giảm xuống, so với 68% những người mong đợi sự tăng trưởng tiếp tục, có thể ít ỏi, theo cuộc khảo sát mới nhất của các nhà quản lý quỹ của Bank of America, được gửi cho khách hàng ngày 18/7.

Alan Ruskin - Chiến lược gia, trưởng bộ phận quốc tế tại Deutsche Bank cho biết: “Với dữ liệu lạm phát tốt hơn, khả năng hạ cánh mềm đang lên ngôi và đó là môi trường mà đồng đô la kém hiệu quả nhất trong ba kịch bản”.

Các nhà phân tích tại HSBC cho biết trong một báo cáo cho khách hàng ngày 18/7: “Các dấu hiệu cải thiện hơn nữa trong bức tranh hỗn hợp tăng trưởng - lạm phát toàn cầu và sự hạ cánh nhẹ của Mỹ đã gieo mầm cho sự suy yếu của đồng đô la Mỹ trong thời gian tới”.

Trên thực tế, đồng tiền dự trữ của thế giới đã trở nên bấp bênh trong phần lớn thời gian đã qua của năm nay, mạnh lên vào tháng 2 sau một loạt dữ liệu lạm phát đáng báo động trước khi chìm xuống vào tháng 3 và tháng 4 sau sự sụp đổ của một số ngân hàng khu vực của Mỹ.

Các nhà phân tích của Goldman Sachs cũng cho biết, động thái gần đây có thể là khởi đầu cho một đợt giảm giá lớn hơn. “Sẽ còn nhiều đợt giảm nữa” - ngân hàng đã cho biết trong một báo cáo phân tích gửi cho khách hàng vào cuối tuần trước. “Chúng tôi cho rằng tình trạng này có thể kéo dài trong thời gian tới”, báo cáo viết.

Các chiến lược gia tiền tệ của Morgan Stanley vào đầu tuần này đã chuyển sang quan điểm trung lập đối với đồng bạc xanh do thừa cung, trong khi nhóm của JPMorgan trước đó đã đề xuất đóng các giao dịch bằng đô la sau khi dữ liệu kinh tế mà họ cho là cung cấp “sự kiểm tra trực tiếp” để phân tích thêm về xu hướng tăng giá của đồng tiền này.

Giao dịch tương lai lãi suất ngụ ý về việc tăng lãi suất 1/4 điểm sẽ được định giá cho cuộc họp của FED vào tuần tới, nhưng những dự đoán về khả năng tăng tiếp trong tháng 9 đã giảm xuống sau dữ liệu, với xác suất 14%, giảm so với 22% một tuần trước.

Đồng tiền này thường được hưởng lợi từ lãi suất cao hơn của Mỹ nhưng cũng có xu hướng tăng trong thời kỳ suy thoái toàn cầu khi các nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn của tài sản tại Mỹ. Tốc độ giảm giá gần đây của đồng đô la khiến một số người ngạc nhiên.

Kit Juckes - Chiến lược gia tiền tệ tại Société Générale cho biết, đồng tiền này “giảm nhanh hơn một chút so với xu hướng lãi suất tương đối, hoặc dữ liệu kinh tế hiện tại, có vẻ như sẽ biện minh cho điều đó” kể từ khi Nga xung đột với Ukraine vào tháng 2 năm ngoái.

Các tài sản rủi ro trên toàn cầu sẽ được hưởng lợi

Sự yếu đi của đồng đô la có thể là một lợi ích đối với một số công ty Mỹ, vì một đồng tiền yếu hơn làm cho hàng xuất khẩu trở nên cạnh tranh hơn ở nước ngoài và giúp các công ty đa quốc gia chuyển đổi lợi nhuận nước ngoài trở lại đô la rẻ hơn.

Đồng đô la Mỹ sụt giảm mang lại lợi ích cho các tài sản rủi ro trên toàn cầu

Do đồng đô la là trụ cột của hệ thống tài chính toàn cầu, nhiều loại tài sản sẽ được hưởng lợi nếu đồng tiền này tiếp tục giảm giá. Ảnh: Reuters

Lĩnh vực công nghệ của Mỹ, bao gồm một số công ty tăng trưởng lớn đã dẫn đầu thị trường trong năm nay, chỉ tạo ra hơn 50% doanh thu ở nước ngoài, một phân tích về các công ty Russell 1000 của Bespoke Investment Group cho thấy.

Nguyên liệu thô, được định giá bằng đô la, trở nên hợp lý hơn đối với người mua nước ngoài khi đồng đô la giảm giá. Chỉ số hàng hóa S&P/Goldman Sachs tăng 4,6% trong tháng này, với tốc độ tốt nhất kể từ tháng 10/2022.

Các thị trường mới nổi cũng được hưởng lợi, bởi đồng tiền của Mỹ giảm giá khiến các khoản nợ bằng đô la trở nên dễ thanh toán hơn. Chỉ số tiền tệ của thị trường mới nổi quốc tế MSCI tăng 2,4% trong năm nay.

Alvise Marino - Chiến lược gia ngoại hối tại Credit Suisse cho biết: “Đối với thị trường, đồng đô la yếu hơn và động lực cơ bản của nó, lạm phát yếu hơn, là một sự cân bằng cho mọi thứ, đặc biệt là đối với các tài sản bên ngoài nước Mỹ”.

Sự sụt giảm của đồng bạc xanh xảy ra khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ giảm trong những ngày gần đây, làm giảm sức hấp dẫn của đồng đô la trong khi thúc đẩy nhiều loại tiền tệ khác, từ đồng Yên Nhật đến đồng Peso của Mexico.

Karl Schamotta - Giám đốc chiến lược thị trường tại Corpay cho biết: "Đồng đô la đang lao dốc về mức phổ biến trước khi FED bắt đầu tăng giá và chúng tôi đang chứng kiến các loại tiền tệ nhạy cảm với rủi ro tan chảy trên toàn cầu".

Đồng đô la tiếp tục giảm có thể tăng lợi nhuận cho các chiến lược ngoại hối, chẳng hạn như giao dịch thực hiện bằng đô la, liên quan đến việc bán đô la để mua một loại tiền tệ có năng suất cao hơn, cho phép nhà đầu tư bỏ túi phần chênh lệch.

Sự sụt giảm của đồng đô la đã khiến chiến lược này trở thành một chiến lược có lãi trong năm nay: Một nhà đầu tư bán đô la và mua đồng peso Colombia sẽ thu về 25% từ đầu năm đến nay, trong khi đồng Zloty của Ba Lan mang lại 13%, dữ liệu từ Corpay cho thấy.

Paresh Upadhyaya - Giám đốc chiến lược tiền tệ và thu nhập cố định tại Amundi US cũng nghiêng về khả năng giảm giá của đồng đô la trong khi đặt cược vào sự tăng giá của đồng Tenge Kazakhstan, đồng Peso của Uruguay và đồng Rupee của Ấn Độ. Upadhyaya cho biết: “Khi bạn nhìn vào những gì đang diễn ra hiện tại, triển vọng của đồng đô la vẫn khá ảm đạm”.

Đồng đô la sẽ còn yếu hơn trong 6 tháng tới

Trong thế giới của chính sách tiền tệ, sự suy giảm của đồng đô la có thể là một sự giải thoát cho một số quốc gia, vì nó loại bỏ sự cấp bách để hỗ trợ đồng tiền đang giảm giá của họ.

Helen Given - Nhà giao dịch ngoại hối tại Monex USA tin rằng, FED sẽ kết thúc chu kỳ tăng lãi suất trước hầu hết các ngân hàng trung ương khác, làm giảm đà tăng trưởng dài hạn của đồng đô la.

Mặc dù đồng đô la có thể giảm bớt một số tổn thất gần đây, nhưng "trong 6 tháng tới, có khả năng đồng đô la sẽ còn yếu hơn so với hiện nay" - bà Given nói.

Trong số đó có Nhật Bản. Đồng bạc xanh đã giảm 3% so với đồng Yên trong tuần này và được thiết lập cho mức giảm hàng tuần lớn nhất so với đồng tiền Nhật Bản kể từ tháng 1/2023. Đồng Yên yếu đã trở thành vấn đề đối với nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu của Nhật Bản và làm dấy lên kỳ vọng Nhật Bản sẽ lại can thiệp vào các thị trường để hỗ trợ đồng tiền của mình vào năm ngoái, lần đầu tiên kể từ năm 1998.

Các thương nhân cũng đã theo dõi hành động tiềm năng từ ngân hàng trung ương của Thụy Điển do đồng Krona của Thụy Điển yếu đi, nhưng tuần này, đồng đô la đã giảm gần 6% so với đồng Krona và thiết lập tuần giảm giá lớn nhất kể từ tháng 11 năm ngoái.

Chiến lược gia tiền tệ Kenneth Broux của Societe Generale cho biết, đồng Yên tiếp tục mạnh lên có thể khiến các nhà đầu tư nới lỏng các vị thế giảm giá lớn đã hình thành so với đồng tiền này trong những tháng gần đây, đẩy nó lên cao hơn.

Tất nhiên, làm giảm giá đồng đô la có rủi ro riêng của nó. Một là khả năng lạm phát của Mỹ có thể phục hồi, điều này có thể đặt cược vào mức độ “diều hâu” hơn của FED và làm mất nhiều giao dịch chống lại đồng đô la đã phát đạt trong năm nay.

Mặc dù lạm phát đã hạ nhiệt nhưng nền kinh tế Mỹ vẫn kiên cường so với các quốc gia khác và ít người tin rằng, FED sẽ sớm cắt giảm lãi suất, điều này có khả năng hạn chế đà giảm giá trong ngắn hạn của đồng đô la.

Tuy nhiên, Helen Given - Nhà giao dịch ngoại hối tại Monex USA tin rằng, FED sẽ kết thúc chu kỳ tăng lãi suất trước hầu hết các ngân hàng trung ương khác, làm giảm đà tăng trưởng dài hạn của đồng đô la.

Mặc dù đồng đô la có thể giảm bớt một số tổn thất gần đây, nhưng "trong 6 tháng tới, có khả năng đồng đô la sẽ còn yếu hơn so với hiện nay" - bà Given nói./.

Hoàng Lê (theo Financial Times/Reuters)

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (25/5): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ, đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 25/5, tỷ giá trung tâm đầu tuần được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng. Trong khi chỉ số DXY duy trì quanh 99,24 điểm, tiến gần ngưỡng tâm lý 100 điểm. Đồng USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục nâng lãi suất trước cuối năm, trong bối cảnh thị trường theo dõi sát diễn biến địa chính trị và áp lực lạm phát.
Tỷ giá USD hôm nay (23/5): USD tự do tăng 120 đồng tuần qua, DXY giữ vùng cao khi lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt

Tỷ giá USD hôm nay (23/5): USD tự do tăng 120 đồng tuần qua, DXY giữ vùng cao khi lợi suất trái phiếu Mỹ tăng vọt

(TBTCO) - Sáng ngày 23/5, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, tăng 3 đồng tuần qua. USD tự do giao dịch phổ biến quanh 26.480 - 26.520 VND/USD, tăng khoảng 120 đồng sau nhiều tuần giảm sâu. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần quanh 99,3 điểm, tăng nhẹ 0,02% tuần qua, áp lực lãi suất tiếp tục gia tăng khi lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 18 - 22/5 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 8.000 tỷ đồng qua kênh OMO trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng duy trì quanh vùng 6% - mức được xem là đủ để hỗ trợ tỷ giá nhưng chưa tạo áp lực lớn lên lãi suất huy động. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng chậm lại, song áp lực từ đồng USD quốc tế neo cao vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm

Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 21/5, tỷ giá trung tâm được giữ ở mức 25.135 đồng, trong khi USD tự do tăng lên quanh 26.500 đồng. DXY duy trì quanh 99,11 điểm, gần vùng cao nhất nhiều tuần do kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn. Cùng lúc, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt lên mức cao nhất nhiều thập kỷ, khiến giới đầu tư toàn cầu chú ý.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80