Dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng năm 2025 ở mức 15%

(TBTCO) - Theo các chuyên gia phân tích, đến cuối tháng 11/2024, tín dụng đã tăng trưởng 11,9% so với đầu năm và 16,6% so với cùng kỳ, vượt mức trung bình 14,4% trong giai đoạn 2013-2023. Dự báo, tín dụng ngành ngân hàng sẽ tăng trưởng 15% vào năm 2025, tương đương mục tiêu năm 2024.
aa

Ngành ngân hàng có mức định giá hợp lý

Trong báo cáo phân tích mới nhất về ngành Ngân hàng của Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS), các chuyên gia chỉ ra rằng, tổng thu nhập của ngành ngân hàng được dự báo sẽ tăng trưởng 15,3% so với năm trước, với động lực chính đến từ tăng trưởng tín dụng, dự báo đạt mức 15,6%. Tuy nhiên, thu nhập ngoài lãi lại chỉ kỳ vọng tăng trưởng 8,5% do mảng bảo hiểm vẫn tiếp tục đối mặt với những khó khăn.

Dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng năm 2025 ở mức 15%

Đáng chú ý, chi phí hoạt động của các ngân hàng được các chuyên gia dự báo sẽ tăng trưởng chậm hơn so với tổng thu nhập, với mức tăng chỉ 10,8%, giúp các ngân hàng duy trì khả năng sinh lời ổn định. Nhờ vào các khoản đầu tư vào số hoá trong những năm qua, các ngân hàng trong danh mục phân tích của ACBS có thể kiểm soát tốt hơn tốc độ tăng trưởng chi phí nhân sự, điều này góp phần duy trì lợi nhuận ổn định trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt.

Một điểm sáng là nợ xấu trong hệ thống ngân hàng có dấu hiệu đạt đỉnh và chất lượng tài sản có thể phục hồi trong năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu dự báo sẽ giảm xuống còn 1,5% vào năm 2025, từ mức 1,6% của năm 2024.

Dự báo trong năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn ngành sẽ đạt 15%, tương đương với mục tiêu của năm 2024 và cao hơn mức tăng trưởng GDP danh nghĩa khoảng 10%.

Tuy nhiên, chi phí tín dụng dự báo sẽ tăng nhẹ lên 1,2% trong năm 2025, so với 1,1% trong năm 2024. Chi phí dự phòng cũng được kỳ vọng sẽ tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước, do bộ đệm dự phòng hiện tại không còn dày, và sự phân hoá sẽ diễn ra giữa các ngân hàng trong cách quản lý vấn đề này.

Về định giá, theo các chuyên gia, ngành ngân hàng hiện đang giao dịch ở mức P/E 9,5 lần, thấp hơn gần 1 độ lệch chuẩn so với mức trung bình lịch sử, cho thấy mức giá hợp lý để đầu tư dài hạn, mặc dù lợi nhuận có sự tăng trưởng chậm nhưng vẫn ổn định.

Dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng năm 2025 ở mức 15%

Tính đến cuối tháng 11/2024, tín dụng toàn ngành đã tăng trưởng 11,9% so với đầu năm và 16,6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 2013-2024 (14,4%). Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục triển khai các biện pháp hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, giúp phục hồi nền kinh tế đang đối mặt với khó khăn từ khủng hoảng thị trường bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp.

Trong khi đó, thị trường tiền gửi lại có sự tăng trưởng chậm chạp. Tính đến cuối tháng 9/2024, tăng trưởng tiền gửi thị trường 1 mới chỉ đạt 4,9%, thấp hơn so với mức tăng trưởng tín dụng cùng kỳ (9%). Nguyên nhân một phần đến từ sự chênh lệch lãi suất VND-USD ở mức âm trong một số thời điểm, gây khó khăn trong việc thu hút vốn.

Tuy nhiên, các biện pháp điều tiết từ NHNN đã giúp duy trì thanh khoản ổn định trong hệ thống. Dự báo áp lực thanh khoản sẽ giảm dần khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) có thể sẽ cắt giảm lãi suất xuống còn 4,5% vào cuối năm 2024 và tiếp tục giảm xuống 3,5% - 4,25% vào cuối năm 2025.

Chính sách thuế nhập khẩu của Mỹ có thể gây chậm lại quá trình giảm lạm phát, nhưng dòng vốn từ xuất siêu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và kiều hối vẫn duy trì ổn định, giúp lãi suất USD giảm và hỗ trợ cho lãi suất huy động VND ổn định ở mức khoảng 5% trong năm 2025.

Một yếu tố quan trọng nữa là các khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, hiện khoảng 2/3 đang được gửi tại NHNN. Điều này sẽ giúp hỗ trợ cho các ngân hàng quốc doanh trong trường hợp gặp khó khăn về thanh khoản, tạo dư địa thanh khoản cho họ và giúp họ duy trì lãi suất đầu vào cạnh tranh hơn so với các ngân hàng tư nhân.

Dự báo phục hồi NIM năm 2025

Cũng theo các chuyên gia từ ACBS, tình hình lợi suất ròng (NIM) của toàn ngành ngân hàng không mấy khả quan trong quý III/2024, khi giảm 24 điểm cơ bản so với quý trước và giảm 4 điểm cơ bản so với cùng kỳ, đạt 3,4%. Điều này phản ánh tình hình cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Dự báo tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng năm 2025 ở mức 15%

Năm 2025, các chuyên gia kỳ vọng thị trường bất động sản sẽ phục hồi dần, cùng với việc Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, sẽ kích thích nhu cầu tín dụng và giúp cải thiện lợi suất cho vay của các ngân hàng, qua đó nâng cao NIM trong nửa cuối năm 2025.

Mặc dù lãi suất cho vay, đặc biệt là các khoản vay ngắn hạn, đang ở mức thấp (5-7%), các gói ưu đãi và ân hạn lãi vay hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi Bão Yagi sẽ tiếp tục duy trì áp lực lên NIM cho đến hết năm 2024.

Bên cạnh đó, tỷ lệ CASA (tiền gửi thanh toán) đóng vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí vốn và cải thiện kết quả kinh doanh của các ngân hàng. Mặc dù tỷ lệ CASA đã có sự phục hồi từ sau giai đoạn lãi suất giảm mạnh từ quý I/2023, nhưng vẫn chưa đạt được mức đỉnh như trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Điều này ảnh hưởng đến chi phí vốn và kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng. Tuy nhiên, dự báo tỷ lệ CASA sẽ cải thiện rõ rệt trong năm 2025, giúp giảm chi phí vốn cho các ngân hàng.

Từ sau khủng hoảng bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp năm 2022-2023, chất lượng tài sản của các ngân hàng đã suy yếu đáng kể. Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng niêm yết vẫn duy trì ở mức cao trong suốt bốn quý liên tiếp và tăng nhẹ 4 điểm cơ bản trong quý III/2024 lên 2,25%. Nợ tái cơ cấu theo Thông tư 02/2023 chiếm khoảng 0,8% tổng dư nợ.

Các ngân hàng cho vay cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) hiện có tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với các ngân hàng cho vay doanh nghiệp lớn. Bộ đệm dự phòng của các ngân hàng hiện tại không còn dày và chỉ tương đương với giai đoạn trước đại dịch Covid-19.

Mặc dù tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng nhẹ trong hai quý gần đây, nhưng các dấu hiệu cho thấy nợ xấu đã đạt đỉnh và sẽ có thể cải thiện trong năm 2025. Tỷ lệ nợ chuyển quá hạn, bao gồm cả nợ tái cơ cấu, đã giảm dần xuống còn 0,23% trong quý III/2024, thấp hơn mức trung bình lịch sử là khoảng 0,5%/quý.

Ngoài ra, nợ nhóm 2, một chỉ báo sớm của nợ xấu, các chuyên gia đánh giá rằng nợ đã giảm nhẹ và tiếp tục giảm trong hai quý gần đây nhờ sự phục hồi của nhóm khách hàng bán lẻ. Sự phân hoá rõ nét giữa các ngân hàng trong việc quản lý nợ xấu cũng sẽ tiếp tục.

Thu Hương

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 ▲160K 14,310 ▲160K
Trang sức 99.99 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17787 18369
CAD 17643 17917 18540
CHF 30492 30868 31516
CNY 0 3824 3921
EUR 28373 28590 29678
GBP 33421 33809 34748
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14793
SGD 19667 19949 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30