Thị trường tiền tệ tuần 11-15.9:

Đưa giải pháp vốn cho doanh nghiệp nhà nước, giá vàng miếng quay đầu giảm

Chí Tín
(TBTCO) - Một trong những sự kiện tiền tệ đáng chú ý tuần qua là những nội dung chia sẻ của người đứng đầu ngành ngân hàng về giải pháp vốn cho khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Về diễn biến thị trường, giá vàng miếng trong nước sau chu kỳ tăng nóng đã có nhịp giảm trong tuần qua.
aa

Giải pháp vốn cho doanh nghiệp nhà nước

Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ làm việc với DNNN diễn ra tuần qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chia sẻ những giải pháp tiền tệ tín dụng để hỗ trợ vốn cho khối doanh nghiệp, trong đó có DNNN.

Hạn mức tín dụng không còn là “vấn đề”

Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, hạn mức tín dụng cho từng doanh nghiệp đi vay vốn hoàn toàn do các ngân hàng tự quyết định dựa trên đánh giá sự uy tín, tín nhiệm của khách hàng. NHNN chỉ điều hành tăng trưởng tín dụng trên góc độ toàn hệ thống. Như năm nay, NHNN đã phân bổ hết chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng toàn hệ thống ở mức 14%, do vậy theo bà Hồng, hạn mức tín dụng không còn là vấn đề nữa.

Thống đốc cho biết, NHNN đã ban hành các văn bản cho phép cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ trong giai đoạn 2019 - 2020 và giai đoạn năm 2023. Đối tượng được thụ hưởng các quy định này cũng bao gồm các DNNN và điều này cũng để giúp cho các doanh nghiệp có thể cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tiếp tục vay dư nợ của các tổ chức tín dụng trong hệ thống.

Ngoài ra, người đứng đầu ngành ngân hàng cũng đề cập các chính sách tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn. Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, NHNN cũng là bộ ngành chủ trì phối hợp với các bộ, ngành khác trình Chính phủ ban hành Nghị định về tín dụng ưu đãi đối với lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn, trong đó có rất nhiều chính sách ưu đãi về lãi suất, thời hạn, tài sản đảm bảo…

Đến nay, dư nợ cho lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn của toàn hệ thống đạt khoảng 3 triệu tỷ đồng trên quy mô 12 triệu tỷ đồng của cả hệ thống, con số này chứng minh rằng, tín dụng đối với lĩnh vực này đang được Chính phủ và NHNN đặc biệt quan tâm.

“Đảo nợ” vẫn mắc trên thực tế

Thông tin đáng quan tâm của xã hội với lĩnh vực tiền tệ là việc thực hiện các quy định mới tại Thông tư 06/2023/TT-NHNN. Trong đó, một nội dung rất đáng chú ý là cho phép vay khoản mới tại ngân hàng mới để trả khoản vay cũ tại ngân hàng cũ đối với các khoản vay phục vụ đời sống xã hội (một số người dân gọi nôm na việc này là được “đảo nợ” hợp pháp).

Đưa giải pháp vốn cho doanh nghiệp nhà nước, giá vàng miếng quay đầu giảm
Việc vay khoản mới để trả khoản cũ vẫn không dễ dàng trong việc chuyển tài sản thế chấp. Ảnh: T.L
Tiếp tục tìm cách “phá băng” tín dụng, giá vàng trồi sụt mạnh Lãi suất liên ngân hàng giảm thấp kỷ lục, giá vàng vào nhịp phục hồi

NHNN cho biết, mục đích của quy định này tạo ra sân chơi có tính cạnh tranh hơn bởi theo nội dung giải thích các quy định mới của Thông tư 06, cơ quan này cho rằng việc này sẽ giúp cho khách hàng có thêm cơ hội lựa chọn dịch vụ và tiện ích tốt hơn tại các tổ chức tín dụng khác (nếu có).

Tuy nhiên, khảo sát thực tế cho thấy, việc “đảo nợ” cũng không dễ dàng bởi khách hàng sẽ không dễ lấy tài sản đảm bảo đang thế chấp tại ngân hàng cũ ra trước khi “chồng” đủ tiền trả nợ cho ngân hàng đó. Trong khi đó, ngân hàng mới khi duyệt cho vay thường vẫn phải yêu cầu đưa tài sản đảm bảo vào mới giải ngân cho vay.

Trước thực tế này, TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng Bộ môn Thị trường tài chính thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cũng cho biết, để các quy định không chỉ dừng ở góc độ “lý thuyết”, thì NHNN cũng nên có các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn, chẳng hạn cho phép chuyển khoản vay thẳng từ ngân hàng này sang ngân hàng kia.

“Nếu có hướng dẫn cụ thể để ngân hàng và người dân thực hiện thì các quy định mới của Thông tư 06 sẽ có tính thực tiễn hơn” - ông Huân nói.

Giá vàng miếng đảo chiều giảm

Giá vàng miếng trong nước sau giai đoạn tăng nóng đầu tháng 9 đã có nhịp điều chỉnh giảm trong tuần vừa qua. Tuy nhiên, giá vàng nhẫn vẫn duy trì được đà tăng trong tuần.

Đưa giải pháp vốn cho doanh nghiệp nhà nước, giá vàng miếng quay đầu giảm
Giá vàng miếng đã hạ nhiệt sau một chu kỳ tăng. Ảnh: T.L

Giá vàng miếng sau khi tăng hôm thứ hai đầu tuần đã bước vào chuỗi giảm liên tiếp từ thứ ba đến thứ sáu. Cuối tuần, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận ở mức 67,9 triệu đồng/lượng mua vào và 68,6 triệu đồng/lượng bán ra. Mặt bằng giá này đã thấp hơn khoảng 150 nghìn đồng mỗi lượng so với trước đó 1 tuần, tuy nhiên, vẫn cao hơn khoảng 400 nghìn đồng mỗi lượng so thời điểm đầu tháng 9.

Mặc dù vàng miếng trượt dốc phần lớn thời gian trong tuần, nhưng vàng nhẫn vẫn có được nhiều phiên diễn biến tăng giá, ngược chiều với vàng miếng. Ngày 15/9, giá vàng nhẫn SJC 9999 ghi nhận ở mức 56,25 triệu đồng/lượng mua vào và 57,25 triệu đồng/lượng bán ra.

Tại thị trường quốc tế, giá vàng biến động không nhiều và ghi nhận ở mặt bằng giá khoảng 1.913 USD/ounce. Thông thường, giá vàng thế giới chịu tác động từ các thông tin kinh tế vĩ mô, nhưng bên cạnh đó, thái độ nhà đầu tư gần đây vẫn trong trạng thái thăm dò khiến giá vàng chưa xác định rõ xu hướng.

Các thông tin vĩ mô vẫn ít làm “lung lay” giá vàng

Nhiều thông tin vĩ mô quan trọng xuất hiện trong tuần vừa qua, nhưng những yếu tố này vẫn không làm cho giá vàng trên thị trường quốc tế bị tác động đáng kể.

Trong đó, thông tin đáng quan trọng là Mỹ đã công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao hơn dự kiến vào tháng trước. Cụ thể, CPI của Mỹ trong tháng 8 tăng 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái và CPI cốt lõi tăng 4,3% trong cùng kỳ. Trước đó, CPI được dự báo tăng 3,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm xuống 4.271 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, trong đó vàng miếng giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/9: Vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.300 USD/ounce, lùi về 4.295 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chốt phiên trước tăng tới 600.000 đồng/lượng, lên 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/9: Vàng thế giới giảm 33 USD, trong nước mất tới 1,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.358 USD/ounce, giảm 33 USD so với cùng thời điểm hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
NL 99.99 13,400 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼150K
Trang sức 99.9 13,600 ▼200K 14,200 ▼200K
Trang sức 99.99 13,610 ▼200K 14,210 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▼20K 14,242 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▼20K 14,243 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 ▼20K 1,419 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 ▼20K 142 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 ▼20K 1,409 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 ▼1980K 139,505 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 ▼1500K 105,836 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 ▼1360K 95,972 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 ▼1220K 86,108 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 ▼1166K 82,303 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 ▼834K 58,911 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cập nhật: 28/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18552
CAD 17821 18095 18711
CHF 30648 31024 31663
CNY 0 3826 3921
EUR 28944 29163 30240
GBP 33654 34042 34976
HKD 0 3180 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14410 14996
SGD 19777 20058 20636
THB 689 752 805
USD (1,2) 25706 0 0
USD (5,10,20) 25745 0 0
USD (50,100) 25773 25787 26154
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,775 25,775 26,155
USD(1-2-5) 24,744 - -
USD(10-20) 24,744 - -
EUR 28,958 28,981 30,354
JPY 161.06 161.35 171.13
GBP 33,832 33,924 35,098
AUD 17,879 17,944 18,631
CAD 17,993 18,051 18,718
CHF 30,848 30,944 31,860
SGD 19,890 19,952 20,736
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,243 3,253 3,389
KRW 17.6 18.35 19.97
THB 736.97 746.07 798.37
NZD 14,375 14,508 14,947
SEK - 2,563 2,655
DKK - 3,884 4,022
NOK - 2,680 2,775
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.52 - 6,704.16
TWD 737.02 - 892.94
SAR - 6,798.21 7,161.14
KWD - 82,097 87,360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26150
AUD 17869 17969 18894
CAD 17993 18093 19107
CHF 30825 30855 32441
CNY 3807.6 3832.6 3967.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29089 29119 30842
GBP 33861 33911 35666
HKD 0 3315 0
JPY 161.17 161.67 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14503 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19917 20047 20778
THB 0 717.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14370000
SBJ 13000000 13000000 14370000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,671 25,791 26,150
USD20 25,641 25,791 26,150
USD1 25,621 25,791 26,150
AUD 17,917 18,017 19,130
EUR 28,888 28,988 30,648
CAD 17,941 18,041 19,349
SGD 19,872 19,872 20,709
JPY 161.69 163.19 168.73
GBP 33,757 33,907 34,970
XAU 13,938,000 0 14,242,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30