Giá vàng 2017 có loại bỏ được hoài nghi về tính minh bạch?

Đỗ Minh
Tỷ giá VND/US năm 2016 tăng lên khoảng 300 đồng; giá vàng SJC cả năm tăng lên hơn 3,3 triệu đồng/lượng và giá vàng thế giới tăng lên được gần 100 USD/ounce. Tuy nhiên giá vàng SJC lại chênh cao hơn giá vàng thế giới khoảng 4,7 triệu đồng/lượng và làm hoài nghi về tính minh bạch...
aa

ty-gia-vang-usd

Giá vàng SJC bị hoài nghi về tính minh bạch

Đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng của năm 2016, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giá của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại thị trường TP. Hồ Chí Minh đứng tại mức 35,00 – 36,10 triệu đồng/lượng (giá mua vào – bán ra), áp dụng tại thị trường Hà Nội và các địa phương khác đứng tại mức 35,00 – 36,10 triệu đồng/lượng. Còn trên bảng giá của Tập đoàn DOJI, giá vàng SJC đóng cửa phiên giao dịch cuối năm 2016 đứng tại mức 36,15 – 36,30 triệu đồng/lượng.

So với tháng 11, giá vàng tháng 12/2016 tăng lên thêm được 260 ngàn đồng/lượng và tính chung cả năm 2016 tăng lên được 3,33 triệu đồng/lượng. Đây được coi là một kết quả tích cực của giá vàng năm 2016, khi ở năm 2015, giá vàng SJC cả năm đã bị sụt giảm 2,4 triệu đồng/lượng.

Còn trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay niêm yết trên bảng giá trực tuyến Kitco tại thời điểm đóng cửa năm 2016 đứng tại mức 1.150,09 USD/ounce. Mức giá này hiện tăng hơn so với mức giá đóng cửa năm 2015 là 98 USD/ounce. Qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, giá vàng giao ngay trên thị trường thế giới hiện tương đương khoảng 31,4 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC bán ra tại TP. Hồ Chí Minh khoảng 4,7 triệu đồng/lượng.

Như vậy, giá vàng SJC tại thị trường Việt Nam năm 2016 đã có mức tăng lớn hơn khá nhiều so với mức tăng của giá vàng trên thị trường thế giới, đồng thời mức chênh lệch giữa giá vàng SJC so với giá vàng thế giới đã lại nới rộng tới gần 1 triệu đồng/lượng so với năm 2015 (mức chênh năm 2015 là 3,8 triệu đồng/lượng).

Mức tăng mạnh và lệch nhịp như vậy của diễn biến giá vàng SJC so với giá vàng thế giới, cũng như việc neo giữ giá của vàng SJC ở mức cao hơn nhiều so với giá vàng thế giới như vậy đang đặt ra những mối hoài nghi về sự minh bạch của diễn biến giá vàng SJC trên thị trường hiện nay.

Một điểm cũng gây ra những băn khoăn và đặt câu hỏi của giới phân tích thị trường vàng trong tháng cuối năm 2016, đó là việc liệu có hay không tình trạng “chặt chém” người mua bán vàng ở Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn, khi công ty này niêm yết giá bán ra cao vênh so với giá mua vào tới 1,1 triệu đồng/lượng như hiện nay? Mức chênh lệch mà nhà vàng này đưa ra có khoảng cách lớn như vậy liệu có được coi là bất thường và liệu có phù hợp với các qui định quản lý thị trường vàng?

Những câu hỏi có tính nghi ngờ như vậy của dư luận đang chờ đợi câu trả lời từ cơ quan quản lý nhà nước, bởi vàng miếng SJC hiện đang là thương hiệu vàng quốc gia, được Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước tổ chức quản lý hoạt động sản xuất...

Giá USD cả năm 2016 tăng khoảng 300 đồng/USD

Tỷ giá VND/USD ở các ngân hàng thương mại bắt đầu tăng lên khá mạnh kể từ giữa tháng 11/2016 và hiện đang đứng ở quanh mức 22.800 đồng/USD ở chiều bán ra. Mức giá này đã cao hơn tỷ giá ngày cuối năm 2015 khoảng từ 260 đến 300 đồng/USD tùy mức giá niêm yết ở các ngân hàng khác nhau.

Khảo sát tại thời điểm đóng cửa phiên giao dịch cuối năm 2016 cho thấy, tỷ giá VND/USD niêm yết tại ngân hàng VietinBank đứng ở mức 22.710 – 22.790 đồng/USD (giá mua vào – bán ra); BIDV và Vietcomban cùng đứng tại mức giá 22.720 – 22.790 đồng/USD.

Ở các ngân hàng thương mại khác có mức niêm yết giá bán ra nhỉnh cao hơn, như Eximbank và ACB cùng niêm yết tại mức 22.700 – 22.800 đồng/USD; Sacombank niêm yết tại mức 22.710 – 22.819 đồng/USD; Techcombank niêm yết tại mức 22.710 – 22.810 đồng/USD; TPBank niêm yết tại mức 22.714 – 22.814 đồng/USD...

Theo đánh giá của giới phân tích thị trường tiền tệ cho thấy, năm 2016 được coi là năm có sự điều hành linh hoạt và phù hợp của cơ quan quản lý nhà nước, giúp cho tỷ giá VND/USD không tạo ra các diễn biến giật cục trước các cú sốc tác động từ bên ngoài.

Điểm nhấn đang lưu ý, đó là việc ngay từ đầu năm 2016, Ngân hàng Nhà nước đã lần đầu tiên áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá mới bằng cách công bố tỷ giá trung tâm hàng ngày, giúp định hướng diễn biến tỷ giá bám sát thị trường liên ngân hàng trong nước, cân đối vĩ mô và tình hình trên thị trường quốc tế.

Mặc dù, trong năm qua, thị trường tiền tệ gặp phải hai cú sốc khá lớn tác động mạnh tới diễn biến của đồng USD, cũng như các đồng tiền chủ chốt khác trên thế giới đó là sự kiện 'Brexit' với việc nước Anh bỏ phiếu rời Liên minh châu Âu (EU) và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ với việc ông Donal Trump bất ngờ thắng cử... nhưng nhìn chung tỷ giá đồng VND với các đồng tiền khác trong nước không diễn ra biến động đột biến.

Còn việc giá đồng USD tăng lên khoảng 300 đồng/USD so với năm 2015 được các nhà phân tích đánh giá là phù hợp. Bởi giá đồng USD tăng nhẹ vào cuối năm là do yếu tố mùa vụ, cũng như do ảnh hưởng từ việc đồng USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác, kể từ sau kết quả bầu Tổng thống Mỹ vừa qua.

Có thể thấy rằng, năm 2016 đã khép lại với những kết quả được ghi nhận trong diễn biến và điều hành đối với thị trường tiền tệ, khi lãi suất được điều hành phù hợp với diễn biến vĩ mô và thị trường tiền tệ, qua đó việc ổn định được mặt bằng lãi suất trong năm 2016, đồng thời diễn biến của tỷ giá tạo được xu thế ổn định, ngày càng thích ứng và phù hợp hơn.

Tuy nhiên, diễn biến của giá vàng SJC trên thị trường năm 2016 vẫn để lại những lo ngại về tính minh bạch, nhất là trong những tháng cuối năm, mặc dù giá vàng trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, nhưng giá vàng SJC ở thị trường Việt Nam vẫn có hiện tượng neo giữ giá, khoảng cách chênh lệch giữa giá mua vào – bán ra ở các hiệu vàng dường như còn có tính tùy tiện theo cách đặc lợi cho các nhà vàng.

Bên cạnh đó, mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới lại đang ngày càng doãng rộng hơn trong bối cảnh không xuất hiện yếu tố bất bình thường về cung cầu, cũng như không có được thông tin cần thiết phát đi từ cơ quan quản lý nhà nước chức năng. Đây là vấn đề có tính tồn tại, cần có sự xem xét hợp lý trong công tác điều hành, để hoạt động của thị trường vàng năm 2017 bám sát được tinh thần chỉ đạo của Chính phủ là phải ngày càng ổn định và minh bạch hơn./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80