Giá vàng tăng không ngoại trừ yếu tố đầu cơ, làm giá để trục lợi

N.A (theo NHNN)
Đây là thông tin được bà Nguyễn Thị Hồng, Vụ trưởng Vụ chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết tại cuộc họp báo thường kỳ tháng 5/2014 của NHNN.
aa

NHNN nhận định, giữa tháng 5/2014, giá vàng trong nước có biến động tăng là do yếu tố tâm lý, không ngoại trừ yếu tố đầu cơ, làm giá để trục lợi. NHNN đã kịp thời đưa ra các giải thích và khuyến cáo người dân nên thận trọng khi quyết định mua, bán vàng để tránh các thiệt hại không đáng có do yếu tố tâm lý hoặc bị kích động bởi một số đối tượng kinh doanh cơ hội. Thị trường đã tự điều chỉnh và dần trở lại trạng thái cân bằng hơn, biểu hiện ở khối lượng giao dịch cũng như giá vàng trong nước đã giảm dần trong bối cảnh giá vàng quốc tế ổn định trong biên độ hẹp.

Thông tin tại buổi họp báo cho biết, trong 5 tháng đầu năm 2014, NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, chủ động đưa tiền ra và rút bớt tiền về linh hoạt qua các kênh để kiểm soát lượng tiền cung ứng, hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng (TCTD), ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối trong điều kiện mua ngoại tệ để tăng dự trữ Ngoại hối Nhà nước.

Trước diễn biến tình hình trên Biển Đông những ngày gần đây, NHNN theo dõi sát tình hình thị trường, điều hành thị trường mở sẵn sàng hỗ trợ cho các TCTD có nhu cầu hỗ trợ thanh khoản.

Đến ngày 23/5/2014, tổng phương tiện thanh toán tăng 5,28%, huy động vốn tăng 4,2% so với cuối năm 2013; thanh khoản của các TCTD tiếp tục đảm bảo, dự phòng chi trả rất tốt, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán cho doanh nghiệp và người dân; thị trường liên ngân hàng hoạt động thông suốt, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng nhẹ, hiện nay tương đương với mặt bằng lãi suất cuối năm 2013.

Bà Hồng cho biết, mặt bằng lãi suất huy động VND trong tháng 5/2014 tiếp tục ổn định, lãi suất cho vay VND giảm 0,5%/năm. Đến nay, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay VND đã giảm 0,5-1,5%/năm so với cuối năm 2013, lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên giảm 1%/năm so với cuối năm 2013.

Các TCTD cũng tích cực điều chỉnh giảm lãi suất các khoản cho vay cũ, đến ngày 15/5/2014, dư nợ cho vay bằng VND có lãi suất trên 15%/năm chỉ chiếm 5% tổng dư nợ cho vay VND, giảm mạnh so với tỷ trọng 65,8% trước thời điểm 15/7/2012; dư nợ cho vay bằng VND có lãi suất trên 13%/năm chiếm 15% tổng dư nợ cho vay bằng VND, giảm so với tỷ trọng 31% vào tháng 6/2013.

Trên cơ sở mục tiêu kiểm soát tăng trưởng tín dụng định hướng toàn hệ thống cả năm 2014 khoảng 12-14%, NHNN đã thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD và yêu cầu các TCTD thực hiện theo chỉ tiêu được giao, đảm bảo việc mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động tín dụng.

Bên cạnh đó, NHNN cũng chỉ đạo các TCTD tích cực triển khai gói hỗ trợ nhà ở 30.000 tỷ đồng theo Nghị quyết số 02/NĐ-CP của Chính phủ, triển khai và mở rộng chương trình kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp; chương trình liên kết 4 nhà trong lĩnh vực xây dựng; triển khai chương trình cho vay thu mua tạm trữ lúa, gạo vụ Đông Xuân 2013-2014; xây dựng chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo mô hình chuỗi liên kết sản xuất các sản phẩm nông sản xuất khẩu, mô hình sản xuất nông nghiệp áp dụng công nghệ cao, mô hình cánh đồng mẫu lớn; chỉ đạo các NHTM nhà nước thực hiện chính sách cho vay hỗ trợ đối với lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản...

Đến ngày 23/5/2014, tín dụng toàn hệ thống các TCTD đối với nền kinh tế tăng 1,31% so với cuối năm 2013. Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

Diễn biến thị trường ngoại hối và tỷ giá trong 5 tháng đầu năm ổn định, thị trường ngoại tệ có xu hướng dư cung và nhu cầu mua - bán ngoại tệ của khách hàng được đáp ứng đầy đủ, NHNN tiếp tục mua được ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước, tạo nguồn can thiệp khi cần thiết. Đến ngày 28/5/2014, tỷ giá giao dịch liên ngân hàng khoảng 21.152-21.154 VND/USD, tỷ giá niêm yết mua bán của các ngân hàng thương mại khoảng 21.115-21.165 VND/USD thấp hơn so với mức trần.

Bên cạnh đó, NHNN cũng tiếp tục triển khai tích cực Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, trong đó tập trung giám sát hoạt động của các NHTMCP yếu kém; chỉ đạo các TCTD cơ cấu lại hoạt động, danh mục tài sản, hệ thống quản trị và hiện đại hóa công nghệ. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các TCTD.

Các giải pháp kiềm chế nợ xấu gia tăng cũng được triển khai một cách đồng bộ, trong đó chỉ đạo các TCTD tăng cường trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng để hạn chế phát sinh nợ xấu mới; Công ty quản lý tài sản của các TCTD tiến hành đánh giá, phân loại các khoản nợ xấu đã mua để có biện pháp xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật.

Trong những tháng tiếp theo của năm 2014, NHNN tiếp tục điều điều hành chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, bảo đảm thanh khoản của các TCTD và nền kinh tế.

Đồng thời, theo dõi sát diễn biến tiền tệ, ngoại hối và hoạt động ngân hàng để phản ứng linh hoạt, sẵn sàng thực hiện các biện pháp để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, vàng, đảm bảo an toàn hoạt động hệ thống TCTD; điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất và tỷ giá ở mức phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát.

Tập trung triển khai các giải pháp tín dụng để đạt được mục tiêu tín dụng cả năm 2014 là 12-14%, tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển; tiếp tục đẩy mạnh triển khai việc cơ cấu lại hệ thống các TCTD, xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hóa hoạt động của các TCTD, đảm bảo an toàn hệ thống./.

N.A (theo NHNN)

N.A (theo NHNN)

Đọc thêm

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

(TBTCO) - Ngày 10/6/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 và phát động Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2026. Từ hơn 1.000 tác phẩm dự thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn và trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc. Trong đó, Báo Tài chính - Đầu tư ghi dấu ấn với 5 tác phẩm đoạt giải.
Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

(TBTCO) - Igloo - công ty công nghệ bảo hiểm (insurtech) ứng dụng AI toàn diện (AI full stack) tại Đông Nam Á, chuyên phát triển nền tảng vận hành cho ngành bảo hiểm vừa công bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ PT Chubb Indonesia (gọi chung là “Chubb Life”). Theo đó, các giải pháp bảo hiểm của Chubb Life sẽ được cung cấp tại Việt Nam và Indonesia thông qua Ignite by Igloo - nền tảng số phân phối bảo hiểm của Igloo.
Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Tín hiệu tích cực từ tỷ giá

Chênh lệch giữa tỷ giá USD trên thị trường tự do và ngân hàng đang thu hẹp nhanh chóng sau giai đoạn căng thẳng đầu năm.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80