Giá vàng thế giới bật tăng lên mức cao nhất 7 tháng qua

Đỗ Minh
Giá vàng thế giới nối tiếp xu hướng tăng dần từ đầu năm 2016 và hiện tại đã đứng ở mức cao nhất trong hơn 7 tháng qua, khi đang đứng sát mức giá 1.200 USD/ounce. Còn thị trường vàng trong nước đang trong kỳ nghỉ Tết nguyên đán, nhưng vẫn đứng ở mức cao nhất trong hơn 3 tháng qua.
aa

gia vang 6 thang

Biểu đồ giá vàng thế giới trong 6 tháng qua. Nguồn Goldprice.org

Giá vàng tăng liên tục trong gần 30 ngày đầu năm

Kể từ ngày 15/1 đến nay, giá vàng thế giới liên tục bám theo xu hướng tăng và hiện đã đạt mức cao nhất trong hơn 7 tháng qua. Cụ thể, tại thời điểm 15 giờ 44 phút chiều ngày 9/2/2016 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay niêm yết trên sàn giao dịch Kitco tại Singapore đứng tại mức 1.190,67 USD/ounce.

Trước đó, trong ngày 8/2, tại giá vàng có lúc đã tăng vượt qua ngưỡng 1.200 USD/ounce, khi các chỉ số chứng khoán chủ chốt trên thế giới đều đi xuống trước những quan ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm tốc. Yếu tố này đẩy giá vàng giao ngay có thời điểm chạm mốc 1.200,6 USD/ounce, mức giá đỉnh kể từ phiên 22/6/2015. Đến cuối phiên 8/2, giá vàng giao ngay tăng 1,8% lên 1.194 USD/ounce.

Trong bối cảnh thị trường vàng tăng mạnh và được dòng tiền tìm đến làm “kênh trú ẩn an toàn”, thì theo số liệu của hãng tin Reuters, lượng vàng do quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới - SPDR Gold Trust - nắm giữ đã tăng 0,7% lên 698,46 tấn trong phiên giao dịch ngày 6/2.

Tính chung cả tuần trước, kim loại quý này tăng 5%, mức tăng theo tuần lớn nhất kể từ tháng 7/2013. Diễn biến trên củng cố nhiều nhận định của giới quan sát cho rằng đà tăng giá của vàng kể từ đầu năm nay duy trì khá ổn định.

Còn đối với các kim loại quý khác, giá bạch kim cũng tăng 2,2% sau khi có thời điểm chạm “đỉnh” 931.76 USD/ounce kể từ ngày 9/11/015; giá bạc có thời điểm tăng lên 15,46 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 3/11, và đóng cửa phiên này tăng 2,8% lên 15,39 USD/ounce.

Giá vàng thế giới qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng hiện đang tương đương khoảng 32,10 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng trong nước tại thời điểm đóng cửa kỳ nghỉ lễ Tết Nguyên đán Bính Thân 2016 khoảng 1,28 triệu đồng/lượng (giá vàng SJC tại thời điểm đóng cửa ngày 5/2 đứng tại mức 33,38 triệu đồng/lượng).

Do thị trường vàng Việt Nam đang trong kỳ nghỉ lễ, nên so với mức giá tham chiếu là giá đóng cửa ngày 5/2 nên mức chênh lệch giá giữa thị trường trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Do vậy, nếu giá vàng trên thị trường thế giới nếu không có biến động sụt giảm mạnh, thì giá vàng trong nước có thể sẽ có một mức tăng khá mạnh khi thị trường mở cửa trở lại trong ngày giao dịch đầu tiên của năm Bính Thân 2016 tới đây.

Nên thận trọng với sự tăng vọt của giá vàng

Trong một bản tin, Kitco News đã trích dẫn bài viết của tác giả Kira Brecht với những khuyến cáo nhà đầu tư hãy cần thận trọng với việc bị cuốn theo chỉ số tăng của giá vàng kể từ đầu năm 2016 tới nay.

Kira Brecht cho rằng, giá vàng đã tăng 11% kể từ đầu năm 2016 tới nay và về mặt kỹ thuật, triển vọng xu hướng ngắn hạn của giá vàng vẫn là theo hướng đi lên. Tuy nhiên, mặc dù giá vàng đang trong xu hướng tăng mạnh mẽ, với việc thị trường đang có sức mua “lấn lướt” sức bán. Tuy nhiên, nó là một dấu hiệu cho thấy làn sóng “biểu tình” hiện nay có thể dễ bị tạm dừng.

Nhưng cũng theo một nhà phân tích quen thuộc trên Kitco News - Neils Christensen, ông đang nhìn thấy một lực đỡ lớn cho giá vàng từ động thái của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC).

Thông tin cho biết, tháng 1/2016, PBOC đã tăng thêm 580.000 ounce vàng để dự trữ chính thức và các ngân hàng trung ương trên thế giới hiện đang nắm giữ tổng cộng 57.180.000 ounce vàng, tăng 0,9% so với tháng mười hai.

Neils Christensen cho rằng, tổng dự trữ ngoại hối giảm 99,5 tỷ USD trong tháng 1/2016, xuống còn 323 tỷ USD, đây là mức thấp nhất kể từ năm 2012.

Kitco News cũng trích dẫn ý kiến của Jeffrey Nichols - cố vấn kinh tế cao cấp của Rosland Capital và Giám đốc điều hành American Precious Metals Advisors - rằng ông không ngạc nhiên khi thấy Trung Quốc mua nhiều vàng hơn, trong khi lại bán dự trữ khác như USD và trái phiếu kho bạc Mỹ.

Nichols cho rằng, kế hoạch của ngân hàng trung ương Trung Quốc mua vàng là một phần trong kế hoạch của mình để làm cho đồng nhân dân tệ có vị thế quốc tế cao hơn. Cùng với cố gắng để ổn định nền kinh tế, ngân hàng trung ương Trung Quốc cũng đang thực hiện đa dạng hóa dự trữ các đồng tiền ngoài đồng đô la Mỹ.

"Một ngày nào đó họ muốn nhìn thấy đồng Nhân dân tệ trong cùng “một giải đấu” như đồng đô la Mỹ, đồng euro và đồng yên Nhật Bản. Để đạt được điều đó họ cần phải tăng dự trữ vàng, nhằm thể hiện sức mạnh bằng đồng tiền của mình" – Nichols nói.

Hiện nay, dự trữ vàng của Trung Quốc được xếp thứ năm trên thế giới, sau Mỹ, Đức, Ý và Pháp. "Nếu Trung Quốc muốn đồng Nhân dân tệ trở thành một loại tiền tệ quốc tế và tham gia các câu lạc bộ của một số các nước công nghiệp lớn, thì họ cần phải tăng dự trữ vàng của họ". Vì vậy Nichols cho rằng, ngân hàng trung ương Trung Quốc sẽ tiếp tục mua từ 10 đến 20 tấn vàng mỗi tháng để thực hiện quốc tế hóa đồng tiền của mình.

Chính điều đó cũng sẽ là một yếu tố quan trọng, hỗ trợ cho giá vàng trong thời gian tới.

Nhưng Kira Brecht khi chiếu theo phương pháp phân tích kỹ thuật đã đưa ra dự báo rằng, theo dữ liệu lịch sử và biểu đồ kỹ thuật, nếu giá vàng không trụ lại được ngưỡng kháng cự mạnh ở mức 1.191/1.192 USD/ounce, thì giá vàng có thể lùi xuống vùng hỗ trợ 1.154 và 1.175 USD/ounce. Còn nếu ngưỡng kháng cự trên được tiếp tục giữ vững, thì giá vàng trong ngắn hạn có thể tăng lên ngưỡng 1.228 USD/ounce./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Hoàn thiện “trụ cột” an sinh, khơi nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Nghị định 85/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ pháp lý triển khai hiệu quả, bền vững chính sách cho bảo hiểm hưu trí bổ sung. Bộ Tài chính kỳ vọng Nghị định góp phần đa dạng hóa chương trình an sinh xã hội, giảm gánh nặng ngân sách trong bối cảnh chuẩn bị giai đoạn già hóa dân số. Đồng thời, thúc đẩy hình thành nguồn vốn dài hạn, phát triển cơ sở nhà đầu tư dài hạn trên thị trường vốn, thị trường trái phiếu.
Sống trên những cú chạm số

Sống trên những cú chạm số

(TBTCO) - Quét QR mua đồ ở nước ngoài mà không cần đổi ngoại tệ, ký hồ sơ vay trực tuyến không cần ra quầy, hay mở sổ tiết kiệm online lúc nửa đêm để "đu trend" gameshow… ngân hàng số đang dần trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt.
Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.
Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

Bên trong “hệ thần kinh số” xử lý hơn 1 tỷ giao dịch của Vietcombank

(TBTCO) - Người dùng có thể hoàn tất một giao dịch ngân hàng chỉ trong vài giây. Nhưng để những thao tác ấy diễn ra đủ nhanh, đủ an toàn và ổn định mỗi ngày là cả một hành trình chuyển đổi số phức tạp của các ngân hàng lớn.
Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Doanh thu phí bảo hiểm tăng hai chữ số, PJICO vẫn khó giữ đà tăng lợi nhuận

Dù duy trì chia cổ tức tiền mặt nhiều năm, PJICO vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng cao hơn từ nhiều cổ đông trong bối cảnh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm chịu sức ép. Quý I/2026, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng mạnh 13,2% lên mức cao, song áp lực chi phí khiến lợi nhuận gộp mảng bảo hiểm đi ngang, tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu dựa vào hoạt động tài chính.
Lộ diện 22 nhà đầu tư đăng ký mua cổ phiếu riêng lẻ, NCB đẩy nhanh kế hoạch tăng vốn lên sát 30.000 tỷ đồng

Lộ diện 22 nhà đầu tư đăng ký mua cổ phiếu riêng lẻ, NCB đẩy nhanh kế hoạch tăng vốn lên sát 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - NCB vừa công bố danh sách nhà đầu tư chuyên nghiệp dự kiến tham gia đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ, trong đó có nhiều lãnh đạo và cổ đông hiện hữu đăng ký mua thêm. Sau khi phát hành thành công 1 tỷ cổ phiếu, ngân hàng sẽ nâng vốn điều lệ lên hơn 29.280 tỷ đồng, trong bối cảnh tín dụng quý đầu năm tăng mạnh 20%.
VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

VPBank nâng vốn điều lệ lên ngưỡng 100.000 tỷ đồng trong bối cảnh tín dụng tăng mạnh

(TBTCO) - VPBank dự kiến phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 26,04%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 79.339 tỷ đồng lên 100.000 tỷ đồng ngay trong quý II - III/2026 và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên vượt mốc này. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô tín dụng hợp nhất mở rộng mạnh 10,2% chỉ sau một quý, đạt 1,06 triệu tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 16,200
Kim TT/AVPL 15,900 16,200
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 16,200
Nguyên Liệu 99.99 14,850 15,050
Nguyên Liệu 99.9 14,800 15,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 16,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 16,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 15,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 162,000
Hà Nội - PNJ 159,000 162,000
Đà Nẵng - PNJ 159,000 162,000
Miền Tây - PNJ 159,000 162,000
Tây Nguyên - PNJ 159,000 162,000
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 162,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 16,200
Miếng SJC Nghệ An 15,900 16,200
Miếng SJC Thái Bình 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 16,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 16,200
NL 99.90 14,350
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400
Trang sức 99.9 15,390 16,090
Trang sức 99.99 15,400 16,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 16,202
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 16,203
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 1,615
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 1,616
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 160
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 158,416
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 120,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 108,961
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 9,776
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 93,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 66,877
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 162
Cập nhật: 23/05/2026 00:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18257 18532 19108
CAD 18577 18854 19470
CHF 32874 33259 33899
CNY 0 3839 3931
EUR 29952 30225 31250
GBP 34588 34980 35911
HKD 0 3233 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15124 15712
SGD 20054 20337 20859
THB 722 786 839
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26178 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,390
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,142 30,166 31,436
JPY 161.5 161.79 170.65
GBP 34,819 34,913 35,922
AUD 18,496 18,563 19,164
CAD 18,794 18,854 19,444
CHF 33,155 33,258 34,050
SGD 20,221 20,284 20,967
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.05 16.74 18.11
THB 770.86 780.38 831.51
NZD 15,161 15,302 15,669
SEK - 2,779 2,861
DKK - 4,033 4,153
NOK - 2,808 2,891
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,225.64 - 6,990.35
TWD 757.57 - 912.8
SAR - 6,919.88 7,249.51
KWD - 83,792 88,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26208 26208 26390
AUD 18427 18527 19450
CAD 18748 18848 19863
CHF 33095 33125 34699
CNY 3818 3843 3978.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30107 30137 31863
GBP 34870 34920 36678
HKD 0 3355 0
JPY 162.09 162.59 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20203 20333 21059
THB 0 750.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,390
USD20 26,184 26,234 26,390
USD1 26,184 26,234 26,390
AUD 18,498 18,598 19,706
EUR 30,292 30,292 31,700
CAD 18,708 18,808 20,115
SGD 20,292 20,442 21,420
JPY 162.61 164.11 168.64
GBP 34,783 35,133 36,005
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/05/2026 00:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80