Giá vàng thế giới dự báo còn lập đỉnh mới, giải pháp bán vàng trong nước hiện tại khó đáp ứng nhu cầu

Duy Thái
(TBTCO) - Giá vàng thế giới đã tăng vượt đỉnh lịch sử vào cuối tuần qua và được dự báo sẽ còn xu hướng tăng trong thời gian tới. Theo các chuyên gia của SSI Research, giải pháp bán trực tiếp vàng miếng của Ngân hàng Nhà nước cho 4 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước và SJC khó có thể đáp ứng được nhu cầu trong nước. Vì vậy, việc sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về kinh doanh vàng miếng sẽ cần được đẩy nhanh hơn để đáp ứng đủ nhu cầu và tránh tạo ra tâm lý đầu cơ trên thị trường này.
aa

Sửa pháp lý để tránh tâm lý đầu cơ

Thị trường vàng sau thời gian ngắn bình lặng lại bắt đầu “nổi sóng” trong thời gian gần đây. Tuần trước. thị trường vàng tăng giá khá mạnh khi Ngân hàng Nhà nước công bố giá bán trực tiếp cho 4 ngân hàng và Công ty SJC với giá 79 triệu đồng/lượng (13/8). Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại và Công ty SJC bán vàng miếng SJC ra thị trường ở mức giá phổ biến là 80 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng SJC đã tăng 1,5 triệu đồng/lượng so với lần điều chỉnh giá kế trước.

Giá vàng thế giới dự báo còn lập đỉnh mới, giải pháp bán vàng trong nước hiện tại khó đáp ứng nhu cầu
Giá vàng SJC bật tăng ngày 20/8. Nguồn: Doji.

Không dừng ở đó, giá vàng SJC tiếp tục “nhảy tăng” trong sáng ngày 20/8/2024. Giá vàng SJC niêm yết sáng ngày 20/8 tại Doji ở mức 79 triệu đồng/lượng và 81 triệu đồng/lượng, tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào/bán ra so với phiên kế trước. Như vậy, chênh lệch giá mua - bán vàng SJC tại DOJI ở mức 2 triệu đồng/lượng.

Mức mua vào/bán ra ở 79 triệu đồng/81 triệu đồng cũng được niêm yết tại Công ty SJC sáng 20/8.

Trong khi đó, giá vàng nhẫn ít biến động hơn. Giá vàng nhẫn dao động ở mức 76,8 triệu đồng/lượng và 78,2 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra).

Nguyên nhân giá vàng trong nước tăng được cho là do ảnh hưởng từ xu hướng của giá vàng quốc tế. Cập nhất lúc 15h00 ngày 20/8, giá vàng quốc tế (XAU) đã vượt ngưỡng 2.515 USD/ounce. Như vậy, giá vàng thế giới đã tăng 0,46% trong 24 giờ qua, tương ứng với tăng 12,20 USD/ounce.

Theo dự báo trên thế giới đang chia làm 2 xu hướng. Một hướng cho rằng, giá vàng thế giới có thể sẽ điều chỉnh giảm trở lại khi “test” ngưỡng 2.500 USD/ounce. Một số nhận định khác thì dự báo, mặc dù đã vượt đỉnh, nhưng giá vàng thế giới có thể còn tăng và tiến lên ngưỡng 2.600 USD/ounce.

Vài tháng lại đây, nhiều người có nhu cầu về vàng nhẫn, vàng miếng SJC gặp khó khăn khi đi mua. Bởi, các ngân hàng bán vàng “nhỏ giọt”, trong khi hầu hết doanh nghiệp thông báo không có cả vàng miếng lẫn vàng nhẫn.

Trái ngược với tình trạng này, trên thị trường tự do, hoạt động mua bán vàng miếng và vàng nhẫn lại diễn ra tấp nập với mức giá chênh từ 1 - 5 triệu đồng/lượng, tùy loại và tùy thời điểm.

Ngoài ra, kể từ khi Ngân hàng Nhà nước giới hạn việc bán vàng miếng SJC vào nhóm 4 ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước và Công ty SJC, tình trạng mua bán suất mua vàng trên các hội nhóm trực tuyến bắt đầu nở rộ.

Trong báo cáo cập nhật thị trường tiền tệ tuần qua (12 - 16/8), các chuyên gia của SSI Research cho rằng, giá vàng thế giới đã tăng vượt đỉnh lịch sử vào cuối tuần qua và được dự báo sẽ còn xu hướng tăng trong thời gian tới.

Bình luận về thị trường vàng trong nước, chuyên gia của SSI Research cho rằng, giải pháp bán trực tiếp vàng miếng của Ngân hàng Nhà nước cho các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước và Công ty SJC khó có thể đáp ứng được nhu cầu trong nước. “Việc sửa đổi Nghị định 24/2021/NĐ-CP về kinh doanh vàng miếng sẽ cần được đẩy nhanh hơn để đáp ứng đủ nhu cầu và tránh tạo ra tâm lý đầu cơ trên thị trường này” - Chuyên gia SSI Research cho hay.

Trên thực tế, theo khảo sát của phóng viên, nhu cầu mua vàng của người dân vẫn rất lớn. Giai đoạn nửa đầu tháng 8/2024, để mua được vàng qua kênh 4 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC là hoàn toàn không dễ.

Tỷ giá hạ nhiệt và rời mốc 25.000 đồng/USD

Theo thông tin từ SSI Research, trong tuần trước, tâm điểm đến từ số liệu lạm phát tháng 7 ở Mỹ, trong đó so với cùng kỳ năm 2023, CPI cơ bản và CPI toàn phần lần lượt tăng 3,2% và 2,9%, cùng hạ nhiệt nhẹ từ mức 3,3% và 3,0% của tháng 6. Với xu hướng lạm phát giảm và thị trường lao động cân bằng hơn, thị trường đang đánh giá khả năng 75% FED sẽ giảm 25 điểm cơ bản trong kỳ họp tháng 9 và 25% sẽ giảm 50 điểm cơ bản. Tính đến cuối năm, xác suất đang khá cân bằng giữa mức giảm 75 điểm cơ bản và 100 điểm cơ bản – tương đương với việc FED giảm ít nhất 3 lần trong năm nay.

Chỉ số DXY đã giảm tới 0,7% trong tuần trước và các đồng tiền khác (ngoại trừ JPY (-0,7%) đều tăng giá so với USD như: GBP (+1,4%), EUR (+1,0%) hay các đồng tiền trong khu vực châu Á như THB (+1,7%), KRW (+1,0%).

Thống kê cho thấy, chỉ số DXY tiếp tục giảm trong ngày 20/8. Tại thời điểm 15h, ngày 20/8, chỉ số này ở mức 101,7 điểm, giảm -0,06% so với ngày hôm trước, giảm -2,26% so với 1 tháng trước. Đây là mức thấp nhất của chỉ số DXY trong vòng 7 tháng nay và đây cũng là một nguyên nhân quan trọng hỗ trợ cho tỷ giá VND/USD trong nước hạ nhiệt.

Giá vàng thế giới dự báo còn lập đỉnh mới, giải pháp bán vàng trong nước hiện tại khó đáp ứng nhu cầu
Chỉ số DXY liên tục giảm.
Tỷ giá thị trường liên ngân hàng chốt phiên 19/8 ở mức 24.974 VND/USD, giảm mạnh 87 đồng so với cuối tuần trước. Như vậy, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng lần đầu tiên ở dưới mức 25.000 VND/USD kể từ tháng 4/2024.

Thông tin từ SSI Research, trên thị trường ngoại hối trong nước tuần qua, tương đồng với diễn biến trong khu vực, tuần qua, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá tự do đều đồng loạt hạ nhiệt đáng kể so với tuần trước đó, và thu hẹp mức tăng so với cuối năm 2023 xuống chỉ còn 3,2%. Chênh lệch giữa tỷ giá thị trường tự do và niêm yết tại các ngân hàng thương mại đã không còn đáng kể.

Thống kê cho thấy, tỷ giá thị trường liên ngân hàng chốt phiên 19/8 ở mức 24.974 VND/USD, giảm mạnh 87 đồng so với cuối tuần trước. Như vậy, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng lần đầu tiên ở dưới mức 25.000 VND/USD kể từ tháng 4/2024. Riêng tính từ đầu tháng 8 đến nay, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng đã giảm hơn 1,3%.

Tỷ giá tiếp tục giảm trong ngày hôm nay. Theo đó, sáng ngày 20/8, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 24.251 VND/USD, tương ứng tỷ giá trần là 25.463 VND/USD. Tỷ giá USD tại các ngân hàng trong nước cũng đồng loạt giảm mạnh trong sáng nay với mức điều chỉnh hầu hết ở mức trên dưới 100 đồng/USD. Tại Vietcombank, tỷ giá đang được niêm yết ở mức 24.740 VND/USD (mua chuyển khoản) và 25.080 VND/USD (bán ra), giảm 80 VND/USD ở cả hai chiều./.

Duy Thái

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80