Giải pháp phát triển hệ thống an sinh xã hội linh hoạt, thích ứng với dân số đang già hóa nhanh

(TBTCO) - Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Viện KHLĐ&XH) và Prudential vừa phối hợp tổ chức Hội thảo kỹ thuật tham vấn về kết quả của nghiên cứu “Mức độ sẵn sàng cho cuộc sống độc lập khi về già” và “An sinh xã hội cho người cao tuổi” trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam.
aa

Đây là các nghiên cứu do Viện KHLĐ&XH và Viện Nghiên cứu Y – Xã hội học phối hợp thực hiện với sự hỗ trợ của Prudential.

Giải pháp phát triển hệ thống an sinh xã hội linh hoạt, thích ứng với dân số đang già hóa nhanh
Ông Phương Tiến Minh,Tổng giám đốc Prudential phát biểu tại hội thảo. Ảnh: T.L

Già hóa dân số là vấn đề hiện đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, đặc biệt là Việt Nam đang trong quá trình già hóa nhanh. Theo dự báo, thời gian chuyển từ “bắt đầu già” (ageing) sang “già” (aged) là chỉ khoảng 26 năm (bắt đầu từ 2011 đến năm 2036). Với tốc độ này, dự tính vào năm 2050, dân số già tại Việt Nam sẽ có 29,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên, hoặc 21,7 triệu người từ 65 tuổi trở lên. Trong khi đó, nhận thức của người dân về việc chuẩn bị cho tuổi già từ khi còn trẻ còn hạn chế, đồng thời việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi ở nước ta cũng còn nhiều thách thức. Vì vậy, việc tìm hiểu các điều kiện kinh tế - xã hội và sức khỏe, sự chuẩn bị sẵn sàng cho tuổi già của nhóm dân số sẽ trở thành người cao tuổi trong 20-30 năm nữa là rất cần thiết để góp phần cải thiện sự chuẩn bị về tài chính, sức khỏe thể chất, và tinh thần cho thế hệ sắp về hưu và người cao tuổi tại Việt Nam.

Tại hội thảo, Viện KHLĐ&XH đã chủ trì các phiên thảo luận về những phát hiện chính từ nghiên cứu, đồng thời xin ý kiến của các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia trong và ngoài nước, đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan để hoàn thiện các báo cáo. Các đại biểu cũng tham gia thảo luận về các giải pháp nhằm nâng cao ý thức chuẩn bị cho tuổi già và đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số nhanh ở Việt Nam trong thời gian tới.

Cụ thể, nghiên cứu “Mức độ sẵn sàng cho cuộc sống độc lập khi về già” cung cấp số liệu mang tính đại diện quốc gia cho nhóm dân số trong độ tuổi 30-44 ở Việt Nam về việc họ chuẩn bị cho tuổi già độc lập như thế nào. Nghiên cứu được thực hiện trên 2.019 đối tượng từ 30 đến đủ 44 tuổi, tại 6 tỉnh thành phố thuộc các vùng kinh tế đại diện phạm vi quốc gia trong tháng 9 và tháng 10/2021. Nội dung các chỉ số của nghiên cứu “Mức độ sẵn sàng cho cuộc sống độc lập khi về già” được dựa theo nội dung của Chỉ số già hóa chủ động - Active Ageing Index, xoay quanh 4 chủ đề tài chính: Sự gắn kết với gia đình và xã hội; sự chuẩn bị về sức khỏe và tâm lý; đánh giá về triển vọng cuộc sống hưu trí và cuộc sống khi về già.

PGS.TS. Giang Thanh Long đã đại diện nhóm nghiên cứu chia sẻ những phân tích toàn diện và chi tiết, đưa ra các khuyến nghị quan trọng để nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân; tăng cường khả năng tiếp cận của người dân đến các dịch vụ y tế phù hợp; phát triển các dịch vụ và hoạt động chăm sóc người cao tuổi trong thời gian tới.

Nghiên cứu “An sinh xã hội cho người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam” được thực hiện để góp phần đưa ra các giải pháp khả thi nhằm phát triển hệ thống an sinh xã hội linh hoạt, thích ứng với dân số đang già hóa nhanh. Ths. Nguyễn Hải Ninh đại diện nhóm nghiên cứu để trình bày thực trạng về an sinh xã hội cho người cao tuổi, cũng như các khó khăn, nguyên nhân cần tháo gỡ và đưa ra các giải pháp chủ chốt nhằm tăng cường chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi; cải cách và phát triển hệ thống chăm sóc xã hội, chăm sóc dài hạn; đảm bảo an ninh thu nhập cho người cao tuổi và đảm bảo môi trường, điều kiện sống thân thiện với người cao tuổi trong bối cảnh mới ở Việt Nam.

TS. Bùi Tôn Hiến, Viện trưởng Viện KHLĐ&XH phát biểu tại hội thảo: “Vấn đề già hóa đang đặt ra thách thức lớn cho Việt Nam. Tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh chóng trong khi nguồn lực kinh tế của đất nước còn hạn chế và hệ thống an sinh xã hội vẫn còn non trẻ. Đến nay, mới có 33,2% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội; khoảng 45,5% người cao tuổi được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng hoặc trợ cấp xã hội hàng tháng; các cơ chế, chính sách trợ giúp xã hội và hệ thống dịch vụ chăm sóc xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển là những thách thức lớn cho xã hội. Điều này có thể dẫn đến gánh nặng “chưa giàu đã già” nếu như chúng ta không có các biện pháp thích ứng kịp thời và hiệu quả đối với vấn đề già hóa dân số. Vấn đề này đòi hỏi phải có một hệ thống giải pháp chính sách kịp thời, toàn diện hướng đến tất cả các nhóm dân số để chuẩn bị cho xã hội già trong tương lai không xa, chứ không chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề của nhóm người cao tuổi”.

Ông Phương Tiến Minh, Tổng giám đốc Prudential Việt Nam chia sẻ: “Già hóa dân số” nếu được chuẩn bị tốt thì không phải là thách thức mà sẽ trở thành cơ hội cho xã hội. Bằng việc đồng hành cùng cơ quan chuyên ngành các nghiên cứu sâu rộng ở phạm vi quốc gia, Prudential Việt Nam mong muốn đồng hành và chung tay cùng các cơ quan quản lý nhà nước giải quyết các vấn đề về già hóa dân số nói chung để già hóa không là gánh nặng. Prudential mong muốn đặt nền móng xây dựng một cộng đồng có hiểu biết và bắt đầu có những hành động cụ thể để chuẩn bị cho một cuộc sống tuổi già độc lập, năng động. Đây là một trong những dự án dài hạn của Prudential để thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp, khẳng định cho cam kết hành động vì một cộng đồng người Việt khỏe mạnh và thịnh vượng”./.

H.C

Đọc thêm

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

Mastercard: Kết nối và niềm tin sẽ định hình giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của kinh tế số Việt Nam

(TBTCO) - Thanh toán số tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tuy nhiên, theo Mastercard, giai đoạn tăng trưởng tiếp theo sẽ không còn được quyết định chủ yếu bởi số lượng người dùng hay số lượng giao dịch, mà bởi khả năng kết nối giữa các hệ sinh thái thanh toán và mức độ tin cậy mà người dùng dành cho các trải nghiệm số.
ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

ABBank bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 14.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch bổ sung hơn 362 triệu cổ phiếu, nâng tổng số cổ phiếu đăng ký giao dịch lên gần 1,4 tỷ đơn vị, tương ứng vốn điều lệ 13.972,1 tỷ đồng. Động thái này nằm trong lộ trình tăng vốn lên trên 20.000 tỷ đồng, tạo nền tảng để ngân hàng duy trì đà tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu kinh doanh lớn năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

Cuộc đua tiền gửi không kỳ hạn với nhiều nhân tố dẫn dắt

(TBTCO) - Cuộc cạnh tranh CASA (tiền gửi không kỳ hạn) trong ngành ngân hàng đang bước sang một giai đoạn mới. Khác với lợi thế trước đây chủ yếu đến từ "cuộc chơi" công nghệ và miễn phí dịch vụ, nay yếu tố quyết định là năng lực kiểm soát dòng tiền thực tế của khách hàng trong toàn bộ hệ sinh thái.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới

(TBTCO) - ROX Living vừa nâng tỷ lệ sở hữu tại MSB lên trên 1% vốn điều lệ sau khi mua thành công gần 18,3 triệu cổ phiếu trong tổng số 100 triệu cổ phiếu đăng ký. Động thái này diễn ra khi cơ cấu cổ đông lớn của MSB có nhiều biến động, xuất hiện thêm một số tên tuổi mới.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ "nóng" cuộc đua cạnh tranh thị phần

(TBTCO) - Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 12.710 tỷ đồng trong quý đầu năm, chiếm gần 52% thị phần; trong đó, DBV vươn lên vị trí thứ 4 và MIC trở lại top 5, cho thấy cuộc đua thị phần ngày càng nóng lên. Chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu và mở rộng thị phần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Kim TT/AVPL 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,000 ▲150K 15,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 14,300 ▼100K 14,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 14,250 ▼100K 14,450 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 ▲150K 15,050 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 ▲150K 15,000 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 ▲150K 14,980 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 148,500 ▲1000K 151,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,950 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,900 ▲150K 15,150 ▲100K
NL 99.90 13,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,000 ▲50K
Trang sức 99.9 14,340 ▲100K 15,040 ▲100K
Trang sức 99.99 14,350 ▲100K 15,050 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,495 ▲1347K 15,152 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,495 ▲1347K 15,153 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,494 ▲15K 1,514 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,494 ▲15K 1,515 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,474 ▲15K 1,499 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,416 ▲990K 148,416 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,086 ▲750K 112,586 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,592 ▲680K 102,092 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,098 ▲610K 91,598 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,805 ▼69662K 8,755 ▼78212K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,165 ▲417K 62,665 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,495 ▲1347K 1,515 ▲10K
Cập nhật: 16/06/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18008 18282 18858
CAD 18233 18509 19126
CHF 32392 32775 33427
CNY 0 3848 3940
EUR 29812 30034 31112
GBP 34417 34808 35750
HKD 0 3226 3428
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19945 20227 20803
THB 723 786 840
USD (1,2) 26027 0 0
USD (5,10,20) 26068 0 0
USD (50,100) 26097 26111 26423
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,103 26,103 26,423
USD(1-2-5) 25,059 - -
USD(10-20) 25,059 - -
EUR 29,976 30,000 31,360
JPY 159.79 160.08 169.33
GBP 34,647 34,741 35,866
AUD 18,246 18,312 18,965
CAD 18,449 18,508 19,143
CHF 32,696 32,798 33,695
SGD 20,083 20,145 20,895
CNY - 3,819 3,955
HKD 3,290 3,300 3,431
KRW 16.03 16.72 18.15
THB 770.45 779.97 833.37
NZD 14,966 15,105 15,521
SEK - 2,750 2,841
DKK - 4,011 4,142
NOK - 2,709 2,799
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.53 - 6,829.07
TWD 752.89 - 909.37
SAR - 6,891.59 7,241.68
KWD - 83,413 88,542
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,423
EUR 29,919 30,039 31,227
GBP 34,647 34,786 35,804
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,539 32,670 33,586
JPY 160.04 160.68 168.50
AUD 18,242 18,315 18,908
SGD 20,149 20,230 20,816
THB 788 791 826
CAD 18,454 18,528 19,091
NZD 15,058 15,594
KRW 16.67 18.29
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26423
AUD 18201 18301 19232
CAD 18423 18523 19537
CHF 32649 32679 34262
CNY 3827.6 3852.6 3987.8
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29997 30027 31753
GBP 34721 34771 36531
HKD 0 3355 0
JPY 160.53 161.03 171.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15068 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20102 20232 20958
THB 0 750.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,115 26,165 26,423
USD20 26,115 26,165 26,423
USD1 23,907 26,165 26,423
AUD 18,268 18,368 19,472
EUR 30,156 30,156 31,565
CAD 18,376 18,476 19,783
SGD 20,186 20,336 20,896
JPY 161.03 162.53 167.09
GBP 34,632 34,982 36,149
XAU 14,798,000 0 15,052,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/06/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80