Hiệu ứng ngân hàng Mỹ phá sản và cảnh báo về quản trị rủi ro ngân hàng

Chí Tín
(TBTCO) - Cái tên ngân hàng tiếp theo First Republic Bank (FRB) phá sản nối tiếp chuỗi đổ vỡ của các ngân hàng Mỹ và điều này dấy lên những cảnh báo trong hệ thống ngân hàng. Với các ngân hàng Việt Nam, tình trạng thanh khoản hiện đang khá dồi dào cho thấy mức độ an toàn vẫn được đảm bảo, nhưng những bài học thực tế vẫn có giá trị giúp các ngân hàng phát hiện và xử lý sớm những lỗ hổng về quản trị rủi ro.
aa

Hiệu ứng dây chuyền chưa chấm dứt

Tháng trước, trong một buổi trao đổi với các phóng viên Việt Nam về những vấn đề của hệ thống ngân hàng toàn cầu, ông Peter Verhoeven - Chuyên gia tài chính quốc tế, Chủ tịch Prometheus Asia SDN BHD cho biết, thị trường tài chính quốc tế có thể không chỉ chứng kiến những “bài học thực tế” đã xảy ra như Silicon Valley Bank (SVB), Credit Suisse (CS), hay Sinature Bank (SB)… mà biết đâu tới đây hoàn toàn có thể có những sự vụ đổ vỡ mới. Quan điểm trên cho thấy trong thời gian qua, các chuyên gia tài chính vẫn không ngừng lo lắng về sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại Mỹ nói riêng, hệ thống ngân hàng toàn cầu nói chung và thực tế đã cho thấy những bất ổn thực sự vẫn chưa dừng lại.

FRB tiếp tục là cái tên được bổ sung thêm vào danh sách những “chiến binh” chính thức gục ngã khi tuyên bố phá sản. Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) đã đứng ra tiếp quản ngân hàng này. Ngay sau đó, FDIC đã bán lại FRB cho ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất nước Mỹ là JPMorgan Chase thông qua hình thức đấu giá. Việc FRB phá sản đánh dấu vụ sụp đổ ngân hàng thứ ba liên tiếp kể từ tháng 3 năm nay của Mỹ. Đây cũng là vụ sụp đổ lớn nhất kể từ sự kiện Washington Mutual trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, khi đó, JPMorgan cũng chính là tổ chức đã mua lại Washington Mutual.

Diễn biến lãi suất giảm trên thị trường tiền tệ như thời gian gần đây là phù hợp.
Diễn biến lãi suất giảm trên thị trường tiền tệ như thời gian gần đây là phù hợp.

FRB có tính chất khá giống với SVB, trong đó có đặc thù là phục vụ khá nhiều cộng đồng khởi nghiệp công nghệ. Ngân hàng tập trung phục vụ người Mỹ sống ven biển, thu hút khách hàng bằng các khoản thế chấp lãi suất thấp để đổi lấy việc gửi tiền mặt cho ngân hàng. Sau khi SVB đột ngột phá sản vào tháng 3, sự chú ý tập trung vào FRB và ngân hàng này cũng đối mặt với tình hình chi phí huy động vốn tăng cao do lãi suất thắt chặt.

Hệ thống ngân hàng trong nước vẫn ổn định

Trong bối cảnh khủng hoảng ngân hàng diễn ra phức tạp, hệ thống ngân hàng trong nước tỏ ra khá bình yên, tình trạng thanh khoản vẫn dồi dào. Hiện tại, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đang duy trì ổn định ở mức khoảng hơn 4%/năm. Mặt bằng lãi suất này vẫn thấp hơn so với mức 6% trần lãi suất cho vay qua đêm hiện tại của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam và đây cũng được coi là tín hiệu cho thấy các ngân hàng đang trong tình trạng không bị áp lực lớn về thanh khoản.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ thuộc (NHNN) cho biết, từ đầu năm 2023 đến nay, NHNN điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở nhằm ổn định thanh khoản và lãi suất trên thị trường tiền tệ. Theo đó, NHNN liên tục duy trì các phiên chào mua giấy tờ có giá với khối lượng, kỳ hạn phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đảm bảo thanh khoản cho hệ thống tổ chức tín dụng luôn trong trạng thái dư thừa, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi trả, thanh toán của nền kinh tế.

Những giải pháp dài hạn

Một trong những giải pháp ổn định và lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng là việc Ngân hàng Nhà nước đang soạn thảo Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi. Trong đó, một trong những mục tiêu trọng tâm hướng đến trong việc sửa đổi luật là nhằm đảm bảo an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng; tạo hành lang pháp lý trong hoạt động xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội (về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hết hiệu lực từ ngày 31/12/2023), qua đó còn kịp thời chỉnh sửa, hoàn thiện những quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng hiện đã phát sinh bất cập.

Đánh giá về thực trạng của các ngân hàng Việt Nam, ông Peter Verhoeven cũng cho biết, diễn biến kinh tế Việt Nam có yếu tố khác với nhiều quốc gia khác, trong đó, lạm phát được kiểm soát ở mức không cao. Do đó, diễn biến lãi suất giảm trên thị trường tiền tệ Việt Nam như thời gian gần đây cũng là phù hợp, cho dù diễn biến này có phần trái ngược với diễn biến thị trường quốc tế hiện tại.

Mặc dù vậy, các chuyên gia tài chính cho rằng, diễn biến khủng hoảng ngân hàng thị trường quốc tế cũng để lại những bài học để các ngân hàng các nước khác, bao gồm các ngân hàng Việt Nam rút ra kinh nghiệm quản trị rủi ro. Ông Peter Verhoeven cho biết, một trong những bài học có thể kể đến là vấn đề quản lý bảng cân đối kế toán, trong đó có sự cân đối tính phù hợp giữa 2 loại tài sản là “tài sản giữ đến ngày đáo hạn” và “tài sản sẵn sàng để bán”.

Ngoài ra, bài học nữa đáng chú ý là việc một số ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi không được bảo hiểm khá lớn, trong khi ngân hàng cũng tập trung nhiều vào các lĩnh vực rủi ro cao. Những vấn đề về giám sát tín dụng kém dẫn đến có nhiều khoản xóa nợ lớn, tái cơ cấu rất tốn kém và rất chậm cũng là yếu tố dẫn đến suy giảm “sức khỏe” của một số ngân hàng.

Tăng hiệu quả kiểm soát về an toàn vốn của các ngân hàng

Ngân hàng nhà nước đang thực hiện việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 41/2016/TT-NHNN (thông tư 41) ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Theo NHNN, thời gian vừa qua, NHNN (cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng) nhận được kiến nghị của một số ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong quá trình thực hiện Thông tư 41. Trên cơ sở tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến tham gia của các đơn vị, cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng đã giải đáp một số câu hỏi về nội dung của Thông tư 41.

Trong quá trình triển khai Thông tư 41, cơ quan thanh tra, giám sát cũng đã tiếp tục rà soát các quy định liên quan đến Thông tư 41. Để kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho các ngân hàng, NHNN cho biết, việc sửa đổi, bổ sung thông tư quy định về tỷ lệ an toàn vốn là cần thiết.

Theo đó, một trong những định hướng sửa đổi, bổ sung hệ số rủi ro đối với tài sản là khoản phải đòi chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại quốc gia khác, chi nhánh ngân hàng Việt Nam hoạt động tại nước ngoài, ngân hàng được chuyển giao bắt buộc.

NHNN cũng đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về tính giá trị số dư của khoản phải đòi; quy định về xác định hệ số rủi ro tín dụng của tổ chức tài chính; quy định về xác định hệ số rủi ro tín dụng của doanh nghiệp không phải là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; bổ sung quy định về chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại vốn chủ sở hữu đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đồng tiền hạch toán là ngoại tệ.

Một số nội dung khác được đề xuất chỉnh sửa là bổ sung quy định về hệ số rủi ro đối với khoản cấp tín dụng tài trợ dự án kinh doanh bất động sản khu công nghiệp; sửa đổi, bổ sung hướng dẫn về cách xác định trạng thái ngoại hối ròng khi tính vốn yêu cầu cho rủi ro ngoại hối; bổ sung quy định để khuyến khích cho vay các dự án nhà ở xã hội, nhà ở theo các chương trình, dự án hỗ trợ của Chính phủ…

Chí Tín

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,800 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80