Phát triển thị trường khí thiên nhiên: Thách thức thể chế trong bài toán an ninh năng lượng

Còn điểm nghẽn để doanh nghiệp bứt tốc

Hiện nay, Chính phủ ngày càng quan tâm đến vấn đề an ninh năng lượng, khí thiên nhiên; đặc biệt là LNG (khí tự nhiên hóa lỏng) được coi là nguồn năng lượng “cầu nối” quan trọng trong quá trình chuyển dịch xanh và giảm phát thải toàn cầu. Thị trường LNG quốc tế phát triển mạnh và Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế này nếu muốn bảo đảm an ninh năng lượng và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu.

Doanh nghiệp khí Việt Nam tìm “hộ chiếu” hội nhập chuỗi năng lượng toàn cầu
TS. Nguyễn Minh Thảo phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: Hải Anh

Phát biểu tại diễn đàn, TS. Nguyễn Minh Thảo, Phó Trưởng ban Phát triển Doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính khẳng định, khung pháp lý cho hoạt động dầu khí và kinh doanh khí của Việt Nam đã được hình thành tương đối đồng bộ, với trụ cột là các Nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết 55-NQ/TW, Kết luận 76-KL/TW, Nghị quyết 70-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW.

Theo đó, quan điểm xuyên suốt là bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là khu vực tư nhân, tham gia đầu tư, kinh doanh năng lượng trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng.

TS. Nguyễn Minh Thảo nhấn mạnh yêu cầu rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, cải cách mạnh thủ tục hành chính, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời có cơ chế tín dụng, tài chính phù hợp cho các dự án năng lượng trọng điểm.

Từ góc độ chuyên môn, PGS.TS. Lê Quang Duyến - Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Đại học Mỏ, Địa chất cho rằng, rào cản lớn nhất của doanh nghiệp khí Việt Nam khi hội nhập quốc tế hiện nay nằm ở cơ chế giá, khả năng tiếp cận hạ tầng kho cảng và đường ống, năng lực thương mại LNG, quản trị rủi ro cũng như yêu cầu ngày càng khắt khe về ESG và phát thải carbon. “ESG đã trở thành ‘hộ chiếu’ để doanh nghiệp khí tham gia chuỗi giá trị năng lượng toàn cầu”, ông Duyến nhấn mạnh.

Theo PGS.TS. Lê Quang Duyến, giai đoạn 2026 - 2035 cần triển khai đồng bộ các giải pháp: ngắn hạn là sớm minh định cơ chế giá LNG, bảo đảm quyền tiếp cận hạ tầng theo cơ chế bên thứ ba và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp; trung hạn là cải tổ thể chế điều tiết thị trường khí, chuẩn hóa tiêu chuẩn ESG, phát triển thị trường giao dịch khí minh bạch; dài hạn hướng tới xây dựng thị trường khí tích hợp điện - khí, đầu tư CCUS, hydrogen và tiêu chuẩn hóa LNG phát thải thấp.

Thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Thái Hà - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần - Tập đoàn Năng lượng T&T chia sẻ, trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng nhanh, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, LNG đang được xác định là nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng của Việt Nam. Tuy nhiên, để LNG phát huy đúng vai trò, bài toán then chốt nằm ở phát triển hạ tầng và logistics theo chuẩn quốc tế.

Doanh nghiệp khí Việt Nam tìm “hộ chiếu” hội nhập chuỗi năng lượng toàn cầu
LNG đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và hướng đến một tương lai phát triển bền vững. Ảnh: TL

Theo các chuyên gia kinh tế, quy trình chuyển dịch năng lượng đặt Việt Nam trước ba yêu cầu chiến lược: đáp ứng nhu cầu năng lượng gắn với tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động và thực hiện cam kết tại COP26. Trong bức tranh đó, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) được xem là giải pháp trung hạn, vừa giúp giảm phát thải so với than đá, vừa bảo đảm tính ổn định, linh hoạt cho hệ thống điện khi năng lượng tái tạo chưa thể đảm đương vai trò nguồn nền.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy LNG không chỉ là câu chuyện nhập khẩu nhiên liệu. LNG là một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, bao gồm nhập khẩu, kho cảng tiếp nhận và tồn trữ, tái hóa khí, vận chuyển, logistics, phát điện và phân phối. Chỉ cần một mắt xích không đồng bộ, toàn bộ chuỗi sẽ đối mặt với rủi ro về chi phí, an toàn và hiệu quả vận hành.

Chuỗi cung ứng LNG mang tính toàn cầu, đòi hỏi hạ tầng và logistics phải đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn, môi trường, tính ổn định và khả năng kết nối dài hạn. Nếu hạ tầng không đạt chuẩn quốc tế, doanh nghiệp trong nước sẽ khó tiếp cận các hợp đồng LNG dài hạn, chi phí nhập khẩu cao, rủi ro lớn, đồng thời hạn chế khả năng thu hút nguồn vốn quốc tế cho các dự án điện khí LNG.

Thực tiễn từ dự án LNG Hải Lăng cho thấy, cách tiếp cận bài bản, dài hạn là yếu tố quyết định. Dự án được định hướng phát triển đồng bộ từ kho cảng LNG, hệ thống logistics đến tái hóa khí và kết nối với các dự án điện khí, tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn và môi trường. Việc chủ động hợp tác với các đối tác, nhà cung cấp LNG và tổ chức tài chính quốc tế được coi là nền tảng để nâng cao tính ổn định và bền vững của chuỗi cung ứng.

Để LNG thực sự trở thành trụ cột trong chuyển dịch năng lượng, cần sự đồng hành của Nhà nước trong hoàn thiện thể chế, quy hoạch hạ tầng và cơ chế chính sách dài hạn. Phát triển hạ tầng và logistics LNG theo chuẩn quốc tế không chỉ phục vụ ngành năng lượng, mà còn là nền tảng để Việt Nam kết nối sâu hơn với chuỗi cung ứng năng lượng bền vững của khu vực và thế giới.

Tại diễn đàn các chuyên gia nhận định, việc kết nối doanh nghiệp khí Việt Nam với chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế không chỉ nhằm bảo đảm an ninh năng lượng trước mắt, mà còn tạo nền tảng để ngành khí Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, đóng góp vào mục tiêu phát triển xanh, bền vững của đất nước trong dài hạn.