Kỳ vọng lãi suất, tỷ giá sẽ ổn định hơn trong năm tới

Dương An
(TBTCO) - Khi áp lực lạm phát, áp lực tỷ giá toàn cầu giảm dần, TS. Cấn Văn Lực kỳ vọng năm tới lãi suất sẽ ổn định hơn, không tăng hoặc chỉ tăng ở mức nhẹ. Tỷ giá cũng được kỳ vọng có mức tăng “nhẹ nhàng” hơn nhiều so với năm nay. Đây là một nhận định được thảo luận tại Diễn đàn Nhịp đập kinh tế Việt Nam lần thứ hai, do Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia (NCIF) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức tại Hà Nội sáng 22/11 với chủ đề: “Tiếp tục phục hồi kinh tế - Các nhân tố thúc đẩy tăng trưởng”. Hội thảo nhằm phân tích và đánh giá quá trình phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19 và các chính sách nhằm duy trì tăng trưởng và phát triển trong năm tới.
aa

Kinh tế phục hồi nhưng rủi ro đang gia tăng

Theo bà Ramla Khalidi - Đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, triển vọng kinh tế Việt Nam tươi sáng nhưng rủi ro đang gia tăng. “Bằng chứng về sự phục hồi mạnh mẽ là tin đáng mừng sau hai năm gián đoạn kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra. Các gia đình Việt Nam sẽ bước vào năm Quý Mão 2023 với tình hình tài chính tốt hơn so với cùng thời gian năm ngoái” - bà Ramla Khalidi nói.

Bên cạnh đó, rủi ro gia tăng đối với việc phục hồi kinh tế, chủ yếu đến từ bên ngoài. Cuộc xung đột ở Ukraine, suy thoái kinh tế ở Trung Quốc, lãi suất quốc tế tăng và đồng USD mạnh lên, nguy cơ suy thoái kinh tế ngày càng tăng… có thể ảnh hưởng đến nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam và làm tăng rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô. Các nhà hoạch định chính sách sẽ cần cảnh giác, điều chỉnh chính sách tài khóa và tiền tệ kịp thời với tình hình thay đổi trên toàn cầu.

Ở trong nước, rủi ro đáng quan ngại nhất lúc này là thị trường ngân hàng và trái phiếu, vốn rất nhạy cảm với những điều kiện thay đổi nhanh chóng trong lĩnh vực bất động sản. Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu sẽ ngày càng đè nặng lên sản xuất nông nghiệp, sức khỏe và sự an khang của các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi mực nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán và bão lớn.

Nguồn: Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia. Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia. Đồ họa: Văn Chung

Đại diện nhóm nghiên cứu trình bày báo cáo “Cập nhật triển vọng kinh tế Việt Nam” - TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng ban Kinh tế ngành và doanh nghiệp của NCIF, đã phân tích về một số vấn đề tiếp tục phải lưu ý tới đây. Đặc biệt trong đó là lạm phát, dù hiện đang ở mức thấp nhưng khó đảm bảo quý II, III sẽ vẫn thấp như vậy, nhất là với khả năng phải điều chỉnh tỷ giá tới đây.

Theo TS. Trần Toàn Thắng, mặc dù hiện tại lạm phát vẫn chưa phải là vấn đề quá lớn, nhưng áp lực lạm phát đã được cảm nhận rõ hơn. Căng thẳng chính trị tại Ukraine vẫn là nguy cơ lớn nhất đối với lạm phát và giá cả hàng hóa của Việt Nam. Chính sách Zero Covid tại Trung Quốc kéo dài sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề lạm phát toàn cầu.

Với việc nhập khẩu phần lớn các nguyên nhiên vật liệu đầu vào sản xuất, đặt biệt là xăng dầu, trong khi tỷ giá USD/VND có khả năng tiếp tục gia tăng trước sức ép đồng USD tăng giá mạnh cùng với việc tăng mạnh thắt chặt điều kiện tài chính tại Mỹ, dẫn đến áp lực nhập khẩu lạm phát đối với Việt Nam tăng cao. Giá xăng dầu có thể giảm trong ngắn hạn nhưng rủi ro tăng trở lại là khá cao do xung đột giữa Nga - Ukraine chưa chấm dứt. Cú sốc giá nhiên liệu dự kiến có thể giảm bớt vào năm 2023 nhưng hiệu ứng lan tỏa vòng hai tiếp tục diễn ra. Trong khi đó, tổng cầu nội địa đang trong xu hướng phục hồi mạnh, nhất là ở các lĩnh vực dịch vụ tiêu dùng, du lịch.

Bên cạnh đó, xu hướng xuất khẩu giảm trong năm 2023 sẽ càng rõ rệt do nhu cầu giảm. Những tháng cuối năm nay, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu khó khăn về đơn hàng. Ngoài ra, thu hút FDI có triển vọng không khả quan.

Để đạt được tăng trưởng 6,5% phải hết sức phấn đấu

Với các yếu tố tác động như vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng kinh tế Việt Nam năm 2023 có thể diễn ra theo hai kịch bản. Kịch bản 1, tăng trưởng kinh tế có thể chỉ ở mức 6 - 6,2% nếu các yếu tố rủi ro lấn át xu hướng phục hồi đã thiết lập trong năm 2022. Kịch bản 2, khả quan hơn, tăng trưởng kinh tế có thể đạt mức 6,5 - 6,7% trong điều kiện quá trình phục hồi diễn ra thuận lợi hơn, các tác động từ bối cảnh quốc tế không quá lớn.

Cũng phân tích về kịch bản kinh tế thời gian tới, TS. Cấn Văn Lực - Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, 3 yếu tố bên ngoài sẽ ảnh hưởng mạnh đến kinh tế Việt Nam gồm lạm phát thế giới và lạm phát của Mỹ, khả năng kinh tế toàn cầu suy thoái và việc FED tăng lãi suất. Với nhận định lạm phát thế giới đã qua đỉnh, kinh tế thế giới năm tới có khả năng rơi vào suy thoái nhẹ, vị chuyên gia này dự báo năm tới kinh tế Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn và thách thức, tăng trưởng chậm lại kèm lạm phát sẽ cao hơn. Chính phủ về cơ bản đã nhận diện được những rủi ro này nên đặt mục tiêu tăng trưởng năm tới ở mức 6,5%, chấp nhận lạm phát 4,5%. “Để đạt được tăng trưởng 6,5% năm tới chúng ta phải hết sức phấn đấu, đây là kịch bản khả quan nhất vì khó khăn rất nhiều” - ông Cấn Văn Lực nói.

Cần tăng tín dụng để đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế

Liên quan đến chính sách tiền tệ, TS. Trần Toàn Thắng cho rằng, câu chuyện đau đầu hiện nay là có nới room hay không. Với bức tranh kinh tế hiện nay, theo ông cần tăng tín dụng của nền kinh tế để đảm bảo tính thanh khoản, rõ ràng nhu cầu về tiền hiện đang tăng nhanh. Bên cạnh đó, chuyên gia của NCIF cũng nhấn mạnh doanh nghiệp Việt Nam hiện đang chịu lãi suất thực dương cao hơn so với các doanh nghiệp bên ngoài, vốn đang có lãi suất thực âm tương đối thấp.

Về một số thách thức, TS. Cấn Văn Lực cũng cho rằng, FDI đã và đang bị ảnh hưởng, vốn đăng ký mới giảm hơn so với các năm trước, do bối cảnh thế giới nhiều bất định, rủi ro nên dòng vốn có xu hướng thu về những chỗ ít rủi ro hơn.

Một thách thức nữa là lãi suất và tỷ giá. Theo TS. Cấn Văn Lực, lãi suất của Việt Nam tăng tương đối nhanh trong khoảng hai tháng qua. Theo ông, lãi suất không thể và không nên tăng nhanh và tăng mạnh quá trong thời gian tới, nếu buộc phải tăng thì nên tăng từ từ nếu không doanh nghiệp sẽ không chịu được. Khi áp lực lạm phát, tỷ giá toàn cầu giảm dần, TS. Cấn Văn Lực kỳ vọng năm tới lãi suất sẽ ổn định hơn, không tăng hoặc chỉ tăng ở mức nhẹ. Tỷ giá cũng được kỳ vọng có mức tăng “nhẹ nhàng” hơn nhiều so với năm nay. Kiến nghị thêm về chính sách, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh cần tiếp tục kiên trì ổn định kinh tế vĩ mô nhưng phải “hết sức bình tĩnh”.

Dương An

Đọc thêm

Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng cạnh tranh và nhu cầu trở nên đa dạng, VPBank đã xây dựng hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ được “may đo” cho từng lớp khách hàng. Cách tiếp cận này giúp ngân hàng mở rộng quy mô và khai thác sâu hơn giá trị vòng đời khách hàng, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, với mục tiêu dư nợ cấp tín dụng năm 2026 vượt mốc triệu tỷ đồng.
70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

(TBTCO) - Mặc dù kỳ vọng có cuộc sống ý nghĩa sau khi về hưu đang ngày càng tăng cao, song phần lớn người Việt vẫn thiếu các kế hoạch tài chính sẵn sàng để chuẩn bị cho giai đoạn nghỉ hưu.
Giá vàng hôm nay ngày 16/4: Giá vàng điều chỉnh trái chiều quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/4: Giá vàng điều chỉnh trái chiều quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 16/4, giá vàng trong nước điều chỉnh trái chiều tại nhiều doanh nghiệp, dao động quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng.
Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng "Sức khỏe thương hiệu ngân hàng Việt Nam 2025". Brand Beat Score (BBS) là báo cáo thường niên do Mibrand thực hiện và duy trì công bố từ năm 2017 đến nay, nhằm theo dõi diễn biến sức khỏe thương hiệu trong ngành ngân hàng.
Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

(TBTCO) - Chiều 15/4/2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) ký kết hợp tác cùng Cục Thuế (Bộ Tài chính) và cơ quan thuế tại 14 tỉnh, thành phố nhằm triển khai các giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh trong quản lý doanh thu, xuất hóa đơn điện tử, kê khai và nộp thuế.
Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

Lãnh đạo PJICO lý giải kế hoạch "đi chậm mà chắc", dành 70% lợi nhuận trả cổ tức tiền mặt

(TBTCO) - PJICO đặt kế hoạch năm 2026 với doanh thu phí bảo hiểm 5.238 tỷ đồng, tăng 8% và phấn đấu 10%, lợi nhuận trước thuế 324,5 tỷ đồng, tăng 6% và hướng tới 8%; chia cổ tức bằng tiền mặt 12%. Trước kỳ vọng tăng trưởng hai con số từ cổ đông, lãnh đạo PJICO nhấn mạnh, chiến lược của PJICO là phát triển an toàn, bền vững và hiệu quả, không đặt trọng tâm vào tăng trưởng về doanh thu, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và còn nhiều rủi ro.
Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Nhiều ngân hàng chủ lực trong nhóm “big 4” đồng loạt giảm lãi suất, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng hoạt động và góp phần thúc đẩy dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

(TBTCO) - Mastercard vừa công bố hoàn tất thành công chương trình thí điểm triển khai các giao dịch qua tác nhân AI (agentic transaction) có xác thực đầu tiên tại Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng cho hệ sinh thái kỹ thuật số của quốc gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼30K 15,700 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼30K 15,650 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼80K 16,760 ▼80K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼80K 16,710 ▼80K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼80K 16,690 ▼80K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Hà Nội - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đà Nẵng - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Miền Tây - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Tây Nguyên - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,260 ▼230K 16,960 ▼230K
Trang sức 99.99 16,270 ▼230K 16,970 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,677 ▲1507K 17,122 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,677 ▲1507K 17,123 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,672 ▼25K 1,707 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,672 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,652 ▼25K 1,692 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,025 ▲159390K 167,525 ▲167355K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,163 ▼1875K 127,063 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,318 ▼1700K 115,218 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,472 ▼1525K 103,372 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,903 ▼1458K 98,803 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,813 ▼1043K 70,713 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cập nhật: 16/04/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18341 18616 19191
CAD 18642 18920 19536
CHF 32939 33324 33963
CNY 0 3800 3870
EUR 30381 30655 31680
GBP 34839 35232 36162
HKD 0 3233 3435
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15201 15783
SGD 20156 20439 20966
THB 738 801 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,621 30,646 31,925
JPY 161.7 161.99 170.77
GBP 35,192 35,287 36,293
AUD 18,622 18,689 19,284
CAD 18,883 18,944 19,528
CHF 33,384 33,488 34,273
SGD 20,350 20,413 21,100
CNY - 3,798 3,921
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 787.87 797.6 849.56
NZD 15,260 15,402 15,766
SEK - 2,835 2,919
DKK - 4,097 4,218
NOK - 2,766 2,847
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,239.76 - 7,001.87
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,916.81 7,244
KWD - 83,892 88,745
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,517 30,640 31,826
GBP 35,109 35,250 36,261
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,120 33,253 34,197
JPY 162.01 162.66 170
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,371 20,453 21,039
THB 803 806 842
CAD 18,830 18,906 19,479
NZD 15,318 15,852
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26357
AUD 18527 18627 19550
CAD 18827 18927 19941
CHF 33204 33234 34812
CNY 3800.7 3825.7 3961
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32322
GBP 35148 35198 36956
HKD 0 3355 0
JPY 162.04 162.54 173.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20323 20453 21175
THB 0 767.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16720000 16720000 17120000
SBJ 15000000 15000000 17120000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,150 26,205 26,357
AUD 18,578 18,678 19,794
EUR 30,777 30,777 32,202
CAD 18,772 18,872 20,188
SGD 20,422 20,572 21,780
JPY 162.85 164.35 168.99
GBP 35,128 35,478 36,560
XAU 17,048,000 0 17,402,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 805 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/04/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80