Thị trường tiền tệ tuần 7- 11.8:

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, vàng bớt áp lực từ các yếu tố vĩ mô quốc tế

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận xu hướng giảm sâu của lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, tuy nhiên, lãi suất cho vay vẫn tiếp tục phải chờ đợi khoảng trễ. Ở góc độ quốc tế, các tín hiệu tích cực về số liệu vĩ mô của Mỹ khiến cho áp lực tăng lãi suất của FED cũng hạ nhiệt hơn và đây cũng là yếu tố giảm nhẹ bớt áp lực lên giá vàng.
aa

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu

Trong tuần, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng giảm xuống chỉ còn 0,21%, rất thấp so với quy định hiện hành về lãi suất tối đa của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Cụ thể, hiện trần lãi suất liên ngân hàng được quy định là 5%, tại Quyết định 1123/QĐ-NHNN ngày 19/6/2022 (quy định lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng). Ngoài mức lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất các kỳ hạn khác hiện cũng xuống rất thấp, với lãi suất kỳ hạn 1 tuần cũng chỉ còn 0,43%, kỳ hạn 2 tuần chỉ còn 0,64%, kỳ hạn 1 tháng chỉ còn 1,78%...

Sự vững mạnh của thị trường tài chính có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế

Dự báo, trong những tháng cuối năm 2023 và cả năm 2024, kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, từ cả tình hình thế giới, khu vực biến động khó lường và những hạn chế, khó khăn trong nội tại của nền kinh tế. Để kinh tế Việt Nam có thể trụ vững và tiếp tục tăng trưởng và phát triển, để khu vực doanh nghiệp được tiếp sức vượt qua khó khăn, sự vững mạnh của thị trường tài chính, tiền tệ, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp… có ý nghĩa rất quan trọng.

Ông Trần Quốc Phương, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ở mặt bằng lãi suất cho vay, tín hiệu giảm lãi suất diễn ra chậm hơn và không đồng đều giữa các ngân hàng, nhưng các chuyên gia cho rằng xu hướng giảm sẽ diễn ra trong những tháng còn lại trong năm.

Ông Michael Kokalari - Giám đốc Phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường thuộc VinaCapital, dự báo lãi suất vay mua nhà sẽ giảm thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong 6 - 12 tháng tới. Đáng chú ý là tâm lý cải thiện đối với thị trường bất động sản đã tác động tích cực đến tâm lý đối với cổ phiếu bất động sản lớn và tâm lý của nhà đầu tư đối với các công ty hưởng lợi từ hoạt động phát triển bất động sản (chẳng hạn như cổ phiếu các công ty xây dựng, các công ty thép…).

Tỷ giá thu hút sự chú ý trở lại

Trong một giai đoạn, tỷ giá tạm thời được giới đầu tư ít chú ý do sự ổn định diễn ra trong suốt giai đoạn dài từ cuối năm 2022 đến nay.

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá USD tháng 7/2023 tăng 0,53% so với tháng trước; giảm 1,71% so với tháng 12/2022; tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước. Một trong các lý do hỗ trợ tỷ giá là nguồn cung ngoại tệ khá dồi dào nhờ vào cán cân thương mại liên tục thặng dư suốt từ đầu năm 2023. Tháng 7/2023, cả nước xuất siêu 2,15 tỷ USD và tính chung 7 tháng năm 2023, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 15,23 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,34 tỷ USD).

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, vàng bớt áp lực từ các yếu tố vĩ mô quốc tế
Lãi suất cho vay mua nhà có thể sẽ tiếp tục giảm thời gian tới. Ảnh: T.L
“Bắt mạch” thị trường tiền tệ sau 2 tuần Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất Lãi suất kỳ vọng giảm, ngân hàng hé lộ kết quả kinh doanh, vàng tăng sức hút

Tuy nhiên, một số yếu tố có thể sẽ tác động lên tỷ giá và theo đó diễn biến tỷ bắt đầu được chú ý nhiều hơn. Đặc biệt, xu hướng lãi suất nếu vẫn tiếp tục diễn ra theo chiều hướng lãi suất trong nước giảm, lãi suất quốc tế tăng. Các chuyên gia phân tích thuộc Công ty Chứng khoán VNDirect cho biết, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD nếu tiếp tục thu hẹp có thể sẽ gây áp lực lên tỷ giá.

Ngoài ra, một số yếu tố khác “đe dọa” tỷ giá có thể kể đến như lạm phát trong nước, các thỏa thuận bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài… “Nhìn chung, chúng tôi cho rằng, tỷ giá có thể biến động mạnh hơn trong nửa sau năm 2023, tuy nhiên, tỷ giá USD/VND sẽ dao động không quá +/- 2,0% so với đầu năm 2023” - chuyên gia VNDirect dự đoán.

Thông tin vĩ mô của Mỹ và mối liên hệ với giá vàng

Cuối tuần, Mỹ đã công bố các số liệu mô cho thấy lạm phát đã phần nào hạ nhiệt và thị trường việc làm cũng đang có dấu hiệu suy yếu.

Cụ thể, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 của Mỹ tăng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn một chút so với dự báo 3,3% của các chuyên gia. Trong khi đó, báo cáo về số lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp hàng tuần của Mỹ cao hơn một chút so với kỳ vọng. Cả hai báo cáo đều nghiêng về những người ủng hộ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ có thể bớt thắt chặt tiền tệ hơn bằng các đợt lãi suất. Đây là một trong những yếu tố có thể giảm bớt áp lực đối với giá vàng, tuy nhiên, các nhà phân tích cũng cho rằng cũng không có cơ sở rõ ràng để có thể kích thích giá vàng tăng trở lại.

Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, vàng bớt áp lực từ các yếu tố vĩ mô quốc tế
Các dữ liệu vĩ mô của Mỹ có ảnh hưởng đến hành động của các nhà đầu vàng. Ảnh: T.L

Giá vàng quốc tế chiều ngày 11/8 ghi nhận ở mức khoảng 1.917 USD/ounce, giảm khoảng 17 USD so với cuối tuần trước. Trong nước, giá vàng miếng SJC 9999 vào chiều ngày 11/8 là 66,85 triệu đồng/lượng mua và và 67,45 triệu đồng/lượng bán ra, cao hơn khoảng 250 nghìn đồng/lượng so với cuối tuần trước.

Kỳ vọng tăng trưởng sẽ phục hồi vào nửa cuối năm

Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng sẽ được cải thiện trong nửa cuối năm nhờ vào các chính sách thúc đẩy tăng trưởng từ phía Chính phủ, bao gồm việc cắt giảm lãi suất và vì kinh tế của Việt Nam đã đi qua giai đoạn khó khăn nhất do hoạt động sản xuất và xuất khẩu đã vượt qua giai đoạn sụt giảm.

Hơn nữa, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam sẽ tăng vọt, từ 6% so với cùng kỳ năm ngoái trong năm 2023, lên hơn 20% vào năm 2024.

Ông Michael Kokalari - Giám đốc Phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường thuộc VinaCapital.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲600K 145,500 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲60K 14,550 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲60K 14,600 ▲60K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,910 ▲60K 14,510 ▲60K
Trang sức 99.99 13,920 ▲60K 14,520 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲6K 14,552 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲6K 14,553 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1272K 145 ▼1299K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1272K 1,451 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Cập nhật: 23/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17891 18165 18739
CAD 17912 18187 18803
CHF 30957 31334 31976
CNY 0 3831 3927
EUR 29042 29261 30340
GBP 33787 34176 35111
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14515 15100
SGD 19809 20091 20659
THB 698 761 814
USD (1,2) 25717 0 0
USD (5,10,20) 25756 0 0
USD (50,100) 25784 25798 26164
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,109 29,132 30,514
JPY 160.34 160.63 170.38
GBP 33,977 34,069 35,261
AUD 18,115 18,180 18,874
CAD 18,108 18,166 18,835
CHF 31,235 31,332 32,259
SGD 19,938 20,000 20,793
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.71 18.47 20.1
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,495 14,630 15,070
SEK - 2,591 2,685
DKK - 3,904 4,042
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,958.4 - 6,728.7
TWD 739.4 - 895.83
SAR - 6,802.09 7,165.12
KWD - 82,284 87,558
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,145 29,262 30,460
GBP 33,995 34,132 35,154
HKD 3,246 3,259 3,376
CHF 31,100 31,225 32,170
JPY 160.94 161.59 169.57
AUD 18,119 18,192 18,784
SGD 20,017 20,097 20,687
THB 763 766 804
CAD 18,123 18,196 18,784
NZD 14,585 15,126
KRW 18.40 20.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 18107 18207 19132
CAD 18105 18205 19216
CHF 31227 31257 32839
CNY 3815.9 3840.9 3976.1
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29259 29289 31015
GBP 34111 34161 35929
HKD 0 3315 0
JPY 161.38 161.88 172.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6490 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14621 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 727.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,716 25,836 26,210
USD20 25,686 25,836 26,210
USD1 25,666 25,836 26,210
AUD 18,188 18,288 19,397
EUR 29,098 29,198 30,864
CAD 18,074 18,174 19,487
SGD 20,082 20,232 20,801
JPY 161.98 163.48 169.08
GBP 34,058 34,208 35,281
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30