“Bắt mạch” thị trường tiền tệ sau 2 tuần Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất

Chí Tín
(TBTCO) - Sau 2 tuần từ khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện đợt giảm lãi suất điều hành lần thứ 3, một số tín hiệu tích cực “nhúc nhích” xuất hiện nhưng chưa rõ nét. Giới chuyên môn cho rằng, thị trường sẽ phải cần một độ trễ nhất định để có sự chuyển biến rõ ràng hơn.
aa
“Bắt mạch” thị trường tiền tệ sau 2 tuần Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất
Từ đầu năm 2023 đến nay, Ngân hàng Nhà nước quyết định giảm lãi suất điều hành 3 lần để hỗ trợ nền kinh tế. Ảnh: TL

Kỳ vọng từ lãi suất giảm

Đợt giảm lãi suất vừa qua của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra vào cuối tháng 5/2023. Theo đó, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với tổ chức tín dụng (TCTD) giảm từ mức

6,0%/năm xuống 5,5%/năm. Lãi suất tái cấp vốn giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu giữ nguyên ở mức 3,5%/năm. Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng giảm từ mức 5,5%/năm xuống 5,0%/năm.

NHNN cho biết, việc tiếp tục điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành là giải pháp linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường hiện nay, để hỗ trợ quá trình phục hồi tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Quốc hội và Chính phủ; qua đó tiếp tục định hướng giảm mặt bằng lãi suất cho vay của thị trường, góp phần tháo gỡ khó khăn cho người vay vốn ngân hàng.

Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, NHNN đã thực hiện nhiều biện pháp để cố gắng giảm lãi suất cho vay nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, theo tinh thần chỉ đạo của Quốc hội và của Chính phủ; trong đó khuyến khích tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để ổn định mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh.

Ở góc độ ngân hàng thương mại, ông Phạm Như Ánh - Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Quân Đội cho biết, tăng trưởng tín dụng của MB từ đầu năm đến cuối tháng 5 đạt khoảng 6,5%. “Kỳ vọng rằng với mặt bằng lãi suất mới thấp hơn, chúng tôi sẽ đạt được mức tăng trưởng tín dụng tốt hơn trong các tháng còn lại, dự kiến hết tháng 6 tốc độ tăng trưởng của MB sẽ đạt mức 9%” - ông Ánh nói.

Cần những giải pháp đồng bộ khác

Một số tín hiệu kinh tế đến cuối tháng 5 vẫn cho thấy còn nhiều khó khăn. Một số tổ chức dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 có thể sẽ chậm lại. Lạm phát có dấu hiệu qua đỉnh, tăng chậm lại trong 5 tháng đầu năm 2023, do tổng cầu yếu và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Theo Tổng cục Thống kê, so với cùng kỳ, lạm phát cơ bản giảm từ 5,21% tháng 1 xuống 4,83% tháng 5.

Tín dụng vẫn tăng chậm

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện 3 đợt giảm lãi suất điều hành nhưng tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn khá chậm. 5 tháng đầu năm 2023 (tương ứng gần 1/2 quãng đường của năm 2023), tín dụng mới chỉ tăng khoảng 3%, thấp hơn khá nhiều so với tăng trưởng tín dụng 14,16% của năm 2022 và mục tiêu tăng trưởng khoảng 14 – 15% năm 2023.

Theo NHNN, ngoài việc giảm lãi suất, NHNN vừa qua cũng có những chỉ đạo các ngân hàng thương mại đẩy mạnh kết nối ngân hàng – doanh nghiệp; kịp thời thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận vốn tín dụng.

Đánh giá về tình hình hiện tại, ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Tiên phong (TP Bank) cho biết, hiện thu nhập của doanh nghiệp đang giảm thấp, chi phí tài chính cao quá cũng là bước cản trở đối với các doanh nghiệp sản xuất và người tiêu dùng.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại đã cố gắng tiết kiệm vốn và giảm chi phí tối đa để có cơ hội giảm lãi suất, nhưng yếu tố lớn nhất trong cấu phần lãi suất cho vay là chi phí vốn. Theo đó, ông Hưng cho rằng, các ngân hàng phải giảm được chi phí vốn thì mới có cơ hội giảm đáng kể hơn lãi suất cho vay.

“Khi lãi suất dễ chịu hơn, lúc ấy mọi việc sẽ thuận lợi hơn, các quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh sẽ có thể khả thi hơn, chúng ta có thể kỳ vọng tín dụng sẽ tăng trưởng” - ông Hưng đưa ra nhận định.

Trong các chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, yêu cầu đặt ra với các ngân hàng cũng là cần phải cố gắng tiết giảm tối đa chi phí, từ đó giảm dần lãi suất cho vay xuống. Với những yêu cầu này, giới ngân hàng cũng đặt kỳ vọng từ hiệu quả của chuyển đổi số và gia tăng các tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt.

Trước những yêu cầu này, NHNN cho biết cũng đã ban hành các chính sách để thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, như: thông tư hướng dẫn mở tài khoản thanh toán của cá nhân bằng phương thức điện tử (eKYC); thông tư hướng dẫn phát hành thẻ eKYC; Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030…

Trong quý I/2023, thanh toán không dùng tiền mặt cũng đã có một số tăng trưởng nhất định với số lượng giao dịch qua Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng 8,55% về giá trị so với cùng kỳ; số lượng giao dịch qua Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tăng 70,77% về số lượng và tăng 18,55% về giá trị.​

Đến cuối tháng 3/2023, giao dịch qua ATM tiếp tục giảm 2,37% về số lượng và giảm 4,02% về giá trị cho thấy xu hướng dịch chuyển từ rút tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt./.

Chí Tín

Đọc thêm

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,880 ▲90K 14,580 ▲90K
Trang sức 99.99 13,890 ▲90K 14,590 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▲9K 14,752 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▲9K 14,753 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1278K 1,465 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1278K 1,466 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1251K 1,445 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲891K 143,069 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲675K 108,536 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79146K 9,842 ▼87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲549K 88,304 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲525K 84,402 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲376K 60,413 ▲376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cập nhật: 18/07/2026 11:35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17818 18092 18679
CAD 18218 18494 19113
CHF 31910 32291 32944
CNY 0 3838 3932
EUR 29444 29665 30746
GBP 34567 34960 35898
HKD 0 3222 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15643
SGD 19810 20092 20674
THB 696 759 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/07/2026 11:35
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80