Lựa chọn phương thức đầu tư tối ưu nhất cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Hà Phương
(TBTCO) - Chủ trì cuộc họp của Thường trực Chính phủ vào chiều tối 23/12 để nghe ý kiến về tình hình triển khai các dự án đường sắt trọng điểm, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, cần lựa chọn phương thức đầu tư dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam phù hợp nhất, tối ưu nhất cho đất nước, đảm bảo công khai, minh bạch, đảm bảo tính khả thi…
aa

Tại cuộc họp, báo cáo tình hình triển khai các dự án tuyến đường sắt, lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, về dự án tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, dự án thành phần 1 đầu tư hạ tầng, kết nối các ga đã được phê duyệt và hiện đã khởi công 5 nhà ga đầu tiên vào ngày 19/12/2025; đồng thời đang khảo sát, thiết kế 16 nhà ga còn lại để khởi công trong quý I/2026.

Dự án thành phần 2 phấn đấu hoàn thành báo cáo nghiên cứu khả thi vào 3/2026, làm cơ sở thẩm định và phê duyệt vào tháng 7/2026.

Lựa chọn phương thức đầu tư tối ưu nhất cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam
Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Về dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam, 11/15 địa phương đã rà soát nhu cầu, xác định khu tái định cư. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã tiến hành rà soát, kiểm đếm, lập phương án di dời công trình điện. Đến nay, 12/15 địa phương có báo cáo nhu cầu đăng ký vốn ngân sách Trung ương. Về công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi, đang thương thảo hợp đồng để ký vào tháng 12/2025.

Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định công bố 37 tiêu chuẩn về đường sắt tốc độ cao, đây là những tiêu chuẩn chung của tất cả các nước trên thế giới. Một số nhà đầu tư đề xuất tuyến đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam theo hình thức đầu tư kinh doanh, nhưng cần có các cơ chế đặc thù, đặc biệt và đánh giá kỹ về tác động.

Về các dự án đường sắt đô thị, Hà Nội đang triển khai tuyến số 3 đoạn Hà Nội - Hoàng Mai, đang lựa chọn tư vấn hỗ trợ kỹ thuật, Thủ tướng đã có quyết định cho phép huy động vốn ODA và vay nước ngoài cho dự án. Tuyến số 5 Văn Cao - Hòa Lạc đã hoàn thành phê duyệt dự án thành phần 2 và khởi công, triển khai các thủ tục về giải phóng mặt bằng. Tuyến số 2, đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo đã khởi công tháng 10/2025, UBND TP. Hà Nội đang tổ chức thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh dự án theo mô hình TOD. Tuyến số 3 đoạn đi ngầm từ Cầu Giấy đến ga Hà Nội đang thi công ngầm và đạt 72% kế hoạch.

Đối với dự án tuyến đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh, đang thực hiện một số nhiệm vụ cho 7 tuyến về lựa chọn tổng thể, xây dựng kế hoạch, chuẩn bị vốn; đang triển khai điều chỉnh tuyến số 2 Bến Thành - Tham Lương và hoàn thiện các thủ tục liên quan để khởi công ngày 19/1/2026.

Tập trung đẩy nhanh tiến độ

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam là dự án được Đảng, Nhà nước, nhất là Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Tổng Bí thư Tô Lâm rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, nhân dân kỳ vọng, mong đợi.

Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng rà soát lại các quy chuẩn, tiêu chuẩn trên cơ sở kinh nghiệm thế giới và Việt Nam để lựa chọn công nghệ xây dựng đảm bảo các yếu tố kỹ thuật, kinh tế, chính trị, ngoại giao, an ninh quốc phòng, khả năng chuyển giao công nghệ, vận hành...

Trên cơ sở đó, đề ra các tiêu chuẩn, tiêu chí, quy định để lựa chọn phương thức đầu tư phù hợp nhất, tối ưu nhất cho đất nước, đảm bảo công khai, minh bạch, đảm bảo tính khả thi, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia và phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm.

Thủ tướng yêu cầu trong tháng 1/2026, Bộ Xây dựng phối hợp các bộ, ngành liên quan hoàn thành đánh giá tác động các phương thức đầu tư; đề xuất các cơ chế, chính sách cho từng phương thức để trình Chính phủ; khẩn trương hoàn thành công tác lựa chọn tư vấn khảo sát; hướng dẫn các địa phương triển khai ngay các dự án giải phóng mặt bằng; tiếp tục hoàn thiện bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn công nghệ.

Đối với dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, dự án thành phần 1 đã khởi công vào ngày 19/12, Thủ tướng yêu cầu triển khai đúng và vượt tiến độ. Việc lập dự án tiền khả thi và Hiệp định nối ray giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc phải hoàn thành trong tháng 3/2026.

Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan xây dựng lộ trình cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực, lộ trình nội địa hóa một cách tối đa để góp phần phát triển ngành công nghiệp đường sắt.

Đối với 2 dự án đường sắt kết nối với Trung Quốc là Đồng Đăng - Hà Nội và Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng, Thủ tướng giao Bộ Xây dựng đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch.

Đối với các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, Thủ tướng đề nghị 2 thành phố từ kinh nghiệm của một số tuyến đã đi vào hoạt động, lựa chọn công nghệ với quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn hợp nhất, liên thông, có khả năng dùng chung, bảo đảm tiên tiến, hiện đại, lâu dài; đồng thời từng bước nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, tạo chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp tham gia./.

Hà Phương

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80