Lượng hồ sơ đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà đến ngày 15/8 giảm so dự kiến

Gia Cư
(TBTCO) - Tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, nơi có số lượng lớn người lao động trong diện được hỗ trợ tiền thuê nhà, theo Quyết định số 08/2022/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ, ghi nhận đến ngày 15/8 lượng hồ sơ đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà giảm so dự kiến.
aa
Lượng hồ sơ đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà đến ngày 15/8 giảm so dự kiến

Thổng kê thông tin hồ sơ người lao động trong diện hỗ trợ tiền thuê nhà tại Bình Dương. Ảnh: CTV

Bảo hiểm Xã hội (BHXH) TP. Hồ Chí Minh cho biết, đã xác nhận hồ sơ đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà cho 35.849 đơn vị, với số lượng hơn 1,5 triệu lao động. Trong đó, 28.301 đơn vị, với 1,4 triệu lao động đang làm việc trong doanh nghiệp (tại các khu công nghiệp, khu chế xuất); 7,548 đơn vị, với gần 95.000 lao động quay trở lại thị trường lao động. Thành phố đã giải ngân hỗ trợ 295.800 lao động, với số tiền hơn 156 tỷ đồng (đạt 8,8% dự kiến).

Trước đó, để đẩy nhanh việc chi hỗ trợ tiền thuê nhà cho người la động, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi đã có văn bản khẩn gửi lãnh đạo TP. Thủ Đức, các quận, huyện và các sở, ngành đề nghị đẩy nhanh việc chi tiền hỗ trợ cho người lao động, theo Quyết định số 08/2022/QĐ-Ttg.

Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh yêu cầu Chủ tịch UBND các quận, huyện, TP. Thủ Đức phải trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, xử lý khó khăn khi triển khai hỗ trợ cho người lao động. Nhanh chóng thẩm định, phê duyệt hồ sơ đề nghị hỗ trợ chậm nhất vào ngày 30/8. Khi địa phương không hoàn thành nhiệm vụ, chủ tịch UBND các cấp phải chịu trách nhiệm.

Thực hiện chỉ đạo của UBND TP. Hồ Chí Minh về việc hỗ trợ tiền thuê nhà, theo Quyết định số 08/QĐ-TTg, giám đốc BHXH thành phố yêu cầu trưởng các phòng nghiệp vụ; Giám đốc BHXH TP. Thủ Đức, quận, huyện thực hiện bố trí nhân sự để tổ chức tiếp nhận hồ sơ của doanh nghiệp trong 2 ngày 13/8 (thứ bảy) và 14/8 (chủ nhật); gọi điện thoại đôn đốc các đơn vị nộp hồ sơ đúng thời gian quy định.

Huy động toàn bộ nhân lực của đơn vị để xác nhận mẫu 02, mẫu 03, đảm bảo không để hồ sơ tồn đọng. Bên cạnh đó, từ ngày 13 đến 15/8, đối với hồ sơ xác nhận danh sách mẫu 02, mẫu 03, Giám đốc BHXH TP. Thủ Đức, quận, huyện phối hợp chuyển trực tiếp ngay cho phòng lao động - thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) để kịp thời giải quyết cho người lao động.

Lượng hồ sơ đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà đến ngày 15/8 giảm so dự kiến
Ảnh: Minh họa

Tại Bình Dương, ghi nhận số hồ sơ đề nghị hỗ trợ lao động đang làm việc trong doanh nghiệp là hơn 808.000 (hơn 506 tỷ đồng), đã phê duyệt 750.000 (446 tỷ đồng), đã giải ngân hỗ trợ 158.000 hồ sơ (hơn 79 tỷ đồng).

Số hồ sơ đề nghị hỗ trợ lao động quay lại thị trường lao động hơn 79.000 (số tiền hơn 87 tỷ đồng), đã phê duyệt hỗ trợ gần 65.000 lượt hồ sơ (số tiền hơn 69 tỷ đồng), đã giải ngân hỗ trợ gần 5.500 hồ sơ (số tiền hơn 5,5 tỷ đồng).

Sở LĐ-TB&XH Bình Dương cho biết, cũng đã có văn bản thông báo, đôn đốc các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian tiếp nhận hồ sơ để các doanh nghiệp nhanh chóng nộp hồ sơ về địa phương. Tuy vậy, khả năng số hồ sơ đề nghị sẽ thấp nhiều hơn dự kiến.

Theo lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH tỉnh Bình Dương, tỉnh dự kiến chi 1.300 tỷ đồng để hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động. Trước thực trạng các địa phương chậm chi trả tiền hỗ trợ, Bình Dương đã tăng cường, bố trí nhân sự làm cả ngày thứ bảy, chủ nhật (ngày 13 và 14/8) để tiếp nhận, xử lý hồ sơ cho các đơn vị, doanh nghiệp và người lao động.

Ghi nhận tại địa phương này, những ngày gần đây số lượng các doanh nghiệp, đơn vị nộp hồ sơ về UBND các địa phương rất lớn. Nhiều hồ sơ của doanh nghiệp cũng đã kịp thời được điều chỉnh, bổ sung ngay khi chưa đúng, chưa đủ theo quy định để doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ đúng hạn.

Tại tỉnh Đồng Nai, BHXH tỉnh đã xác nhận, ngành chức năng đã phê duyệt 178.000 hồ sơ đề nghị hỗ trợ tiền thuê trọ cho người lao động với số tiền hơn 258 tỷ đồng, đã giải ngân số tiền hơn 234 tỷ đồng.

Trước đó, Đồng Nai dự kiến chi 720 tỷ đồng hỗ trợ 400.000 người lao động đang làm việc (600 tỷ đồng) và 40.000 lao động quay lại thị trường lao động (120 tỷ đồng). Tuy vậy, sau khi rà soát, nắm lại số lượng lao động đủ điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động trên địa bàn tỉnh, Sở LĐ-TB&XH xin điều chỉnh xuống còn 435 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ 230.000 lao động đang làm việc số tiền 345 tỷ đồng và 30.000 lao động quay lại thị trường lao động số tiền 90 tỷ đồng./.

Gia Cư

Đọc thêm

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Kim TT/AVPL 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲150K 15,600 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲150K 15,550 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 ▲150K 16,600 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 ▲150K 16,550 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 ▲150K 16,530 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 ▲150K 16,640 ▲150K
Trang sức 99.99 15,950 ▲150K 16,650 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 07/05/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18513 18789 19365
CAD 18757 19035 19652
CHF 33132 33518 34164
CNY 0 3824 3916
EUR 30294 30568 31596
GBP 34978 35372 36306
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15367 15952
SGD 20213 20496 21019
THB 729 793 846
USD (1,2) 26045 0 0
USD (5,10,20) 26086 0 0
USD (50,100) 26115 26134 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,487 30,511 31,784
JPY 164.36 164.66 173.58
GBP 35,239 35,334 36,343
AUD 18,746 18,814 19,413
CAD 18,994 19,055 19,640
CHF 33,470 33,574 34,365
SGD 20,382 20,445 21,121
CNY - 3,801 3,923
HKD 3,301 3,311 3,430
KRW 16.77 17.49 18.91
THB 779.85 789.48 839.86
NZD 15,372 15,515 15,882
SEK - 2,806 2,889
DKK - 4,080 4,199
NOK - 2,788 2,870
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,298.6 - 7,069.78
TWD 758.84 - 913.99
SAR - 6,915.52 7,241.89
KWD - 83,842 88,692
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26368
AUD 18709 18809 19734
CAD 18952 19052 20067
CHF 33413 33443 35017
CNY 3806.5 3831.5 3967
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30493 30523 32248
GBP 35292 35342 37103
HKD 0 3355 0
JPY 165.08 165.58 176.09
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15481 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20384 20514 21244
THB 0 761.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16660000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,368
USD20 26,140 26,190 26,368
USD1 23,858 26,190 26,368
AUD 18,751 18,851 19,971
EUR 30,633 30,633 32,061
CAD 18,899 18,999 20,318
SGD 20,452 20,602 21,176
JPY 165.47 166.97 171.64
GBP 35,184 35,534 36,650
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,713 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80