Năm 2022:

Mục tiêu giữ ổn định lạm phát sẽ không dễ dàng

Phương Dung
(TBTCO) - Không ít người vào cuối năm trước đã dự đoán chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2021 sẽ tăng cao, nhưng đến tháng 11, diễn biến lại không như vậy. Theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố, CPI tháng 11 chỉ tăng 0,32%, tính chung 11 tháng năm 2021, CPI tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016.
aa

Dịch bệnh khiến người dân dè dặt chi tiêu

Nhìn vào số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong 11 tháng, có 4 tháng CPI giảm, 7 tháng tăng, nhưng trong đó có một số tháng tăng rất thấp (tháng 1, tháng 5, tháng 6).

Mục tiêu giữ ổn định lạm phát sẽ không dễ dàng

Sau 11 tháng (tức tháng 11/2021 so với tháng 12/2000) còn cách xa so với 2%. Còn sau 1 năm (tức tháng 11/2021 so với tháng 11/2020) cũng vẫn cách xa so với mức 2%. Bình quân 11 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước ở dưới mốc 2% và còn thấp xa so với mục tiêu cả năm theo Nghị quyết của Quốc hội (4%).

Như vậy, dù so sánh với các mốc thời gian nào thì CPI 11 tháng năm 2021 vẫn thấp. Đó là tín hiệu khả quan để dự báo cả năm 2021 sẽ tăng khá thấp có thể chỉ bằng một nửa tốc độ tăng so với mục tiêu.

Xét theo nhóm hàng hóa, dịch vụ, có những diễn biến đáng lưu ý. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống - nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng (33,56%) - tăng rất thấp: tháng 11 giảm 0,17%, sau 11 tháng chỉ tăng 0,33%, sau 1 năm giảm 0,08%, bình quân 11 tháng chỉ tăng 0,74% - thấp rất xa so với mốc chung của cả năm (4%).

Trong 10 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng còn lại, bình quân 11 tháng chỉ có 1 nhóm tăng cao là giao thông, chủ yếu do giá xăng dầu tăng cao vào mấy kỳ trước, gần đây đã giảm xuống. Hai nhóm còn lại bị giảm: bưu chính, viễn thông giảm 0,74% văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,97%.

Xét theo các yếu tố tác động, thì CPI 11 tháng và dự báo cả năm 2021 cũng có những diễn biến đáng lưu ý.

Xét yếu tố tổng quát nhất của lạm phát là quan hệ cung - cầu thường được gọi là “cầu kéo”. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (TMBL) nếu loại trừ yếu tố giá so với cùng kỳ của 8 tháng giảm 6,2%; của 9 tháng giảm 8,7%, của 10 tháng giảm 10,3%, của 11 tháng giảm 10,4%. Sự sụt giảm diễn ra ở cả 4 ngành, kể cả ngành bán lẻ hàng hóa là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất (83,1%) và giảm sâu hơn ở các ngành còn lại: dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch, lữ hành, dịch vụ khác.

Xét yếu tố “chi phí đẩy”, giá nhập khẩu tăng ở hầu hết các mặt hàng. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, giá nhập khẩu 11 tháng năm nay so với cùng kỳ tăng cao, như: phế liệu sắt thép tăng 64,6%, quặng và khoáng sản khác tăng 58,6%, dầu thô tăng 57,3%, khí đốt hóa lỏng tăng 49,8…

Trong khi đó, yếu tố tiền tệ - yếu tố trực tiếp đối với lạm phát và cũng là yếu tố để lạm phát bộc lộ ra - tuy tỷ lệ tổng phương tiện thanh toán/GDP ở mức cao (đến cuối năm trước đã là 192,4%), tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP đã là 145,1%, nhưng sức ép đối với lạm phát năm nay chưa cao.

Bên cạnh các yếu tố trên còn phải kể đến yếu tố tâm lý, nổi rõ ở 3 điểm: CPI tăng thấp, giá USD giảm (tháng 11 giảm 0,21%, sau 11 tháng giảm 1,4%, sau 1 năm giảm 1,63%, bình quân 11 tháng so với cùng kỳ giảm 1%.); sự “bào mòn” do đại dịch đã làm xuất hiện tâm lý thận trọng với dịch bệnh (kể cả việc giảm đi khám chữa bệnh), dè dặt chi tiêu; người tiêu dùng tăng tính tự cấp, tự túc, giảm việc mua bán trên thị trường.

Nhiều yếu tố cảnh báo cho năm 2022

Mục tiêu theo Nghị quyết của Quốc hội đề ra cho năm 2022 là CPI tăng khoảng 4%. Đây là quyết tâm cao của Quốc hội và các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, nếu thực hiện được, thì năm 2022 sẽ là năm thứ 9 liên tục kiểm soát lạm phát theo mục tiêu (tính từ 2014).

Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu trên của năm 2022 sẽ không dễ dàng, thậm chí còn tăng khá cao và tăng ngay từ đầu năm. Cảnh báo này xuất phát từ một số yếu tố chủ yếu sau.

Trước hết là quan hệ cung - cầu. Mục tiêu tăng cung (GDP) đòi hỏi phải tăng vốn đầu tư phát triển từ các nguồn, bởi vốn đầu tư là yếu tố trực tiếp quyết định tốc độ tăng/giảm GDP; đồng thời vốn đầu tư tăng cũng làm tăng cầu khi thu thập và sức mua có khả năng thanh toán tăng theo. Cả cung và cầu bị “bào mòn”, “kìm nén” trong 2 năm 2019 - 2020 sẽ cộng hưởng cùng tăng, khi đại dịch được kiểm soát, hình thành trạng thái “bình thường mới”.

Các gói “kích thích”, “kích cầu” lớn theo đề xuất và được quyết định, cùng với phương thức “kích thích”, “kích cầu” giống như năm 2019 thì càng phải cẩn trọng, bởi quy mô lớn hơn nhiều, khi cấp bù lãi suất sẽ kéo theo một lượng tín dụng “khủng” ra thị trường, trong khi tỷ lệ này/GDP đã rất cao. Khi lạm phát cao lên, thì thường vòng quay tiền tệ sẽ tăng lên, làm cho lượng tiền tệ tăng kép. Với sự chuyển động của dòng tiền trên thị trường, sẽ có một lượng tiền lớn đang bị “chôn” vào các kênh khác sẽ chuyển sang và gây sức ép đến thị trường hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng.

Ngoài ra, nhập khẩu lạm phát được dự đoán sẽ tăng cao, khi các đối tác thương mại lớn có mức lạm phát cao kỷ lục trong mấy chục năm tiếp tục tăng các gói kích cầu lớn cùng với sự phức tạp của đại dịch,… Trong khi đó, yếu tố tâm lý - tuy không phải là yếu tố kinh tế - nhưng trong nhiều trường hợp còn tác động lớn hơn cả yếu tố kinh tế. Đồng thời, về mặt tính toán, do số gốc so sánh là giá tiêu dùng năm 2020 thấp, thì tốc độ tăng năm 2021 sẽ cao lên.

4 nguyên nhân khiến yếu tố tiền tệ không gây áp lực lên lạm phát

Thứ nhất, tỷ lệ tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng/tổng phương tiện thanh toán và tiền gửi năm 2020 thấp hơn một số năm trước (11,05% so với 11,33% của năm 2019, so với 12,07% của năm 2015,…). Thứ hai, vòng quay tiền tệ năm 2020 chỉ còn 0,52 vòng (thấp hơn 3 năm trước: 2019 là 0,57 vòng, 2018 là 0,6 vòng, 2017 là 0,61 vòng,…).

Thứ ba, có một lượng tiền vốn không nhỏ đang bị “chôn” vào vàng, bất động sản, tiền ảo và đầu tư vào chứng khoán, chưa gây sức ép đối với giá hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Thứ tư, với các chính sách tiền tệ cùng gói kích cầu, dòng tiền trên thị trường đã có phản ứng, nhưng lại “chôn” vào các kênh không phải trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng.

Phương Dung

Đọc thêm

Kho bạc Nhà nước tăng tốc cải cách, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo

Kho bạc Nhà nước tăng tốc cải cách, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo

(TBTCO) - Với mục tiêu lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo, Kho bạc Nhà nước vừa tăng tốc cải cách hành chính, vừa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Kỷ cương được siết chặt, quy trình được số hóa, qua đó Kho bạc Nhà nước đã bảo đảm xử lý thủ tục thông suốt, nâng cao chất lượng phục vụ và tạo nền tảng cho Kho bạc số vào năm 2030.
Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực IV: Chỉ tiêu chất lượng đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực IV: Chỉ tiêu chất lượng đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

(TBTCO) - Bảy điểm kho thuộc Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực IV được kiểm tra trong đợt kiểm tra mùa Xuân năm 2026 đều thực hiện nghiêm túc, tuân thủ quy định của pháp luật và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia. Hàng hóa được bảo quản an toàn, chất lượng ổn định.
Kinh tế vững đà tăng trưởng, nhưng áp lực lớn đang chờ phía trước

Kinh tế vững đà tăng trưởng, nhưng áp lực lớn đang chờ phía trước

(TBTCO) - Trong bối cảnh thế giới đối mặt với những biến động từ các xung đột địa chính trị, nền kinh tế nội địa vẫn thể hiện sức chống chịu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng 2 con số, chặng đường phía trước đòi hỏi nỗ lực vượt bậc khi nhiều thách thức đang chờ đợi ở 3 quý cuối năm.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương chúc Tết cổ truyền Bunpimay Lào năm Phật lịch 2569

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương chúc Tết cổ truyền Bunpimay Lào năm Phật lịch 2569

(TBTCO) - Ngày 6/4/2026, Đoàn cán bộ Bộ Tài chính Việt Nam do Thứ trưởng Trần Quốc Phương làm trưởng đoàn đã đến Đại sứ quán Lào tại Việt Nam chúc Tết cổ truyền Bunpimay của Lào năm Phật lịch lần thứ 2569. Tham tán công sứ Lắt-ta-na Shi-ha-lat đón tiếp Thứ trưởng.
Giải ngân đầu tư công quý I/2026: Nhiều lực cản cần tháo gỡ

Giải ngân đầu tư công quý I/2026: Nhiều lực cản cần tháo gỡ

(TBTCO) - Quý I/2026, giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực so với cùng kỳ, nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp so với yêu cầu. Nhiều "điểm nghẽn" kéo dài từ khâu chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng đến nguồn vật liệu và thủ tục dự án tiếp tục là lực cản, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương phải quyết liệt tháo gỡ trong thời gian tới.
Infographics: Tổng quan bức tranh ngân sách nhà nước quý I/2026

Infographics: Tổng quan bức tranh ngân sách nhà nước quý I/2026

(TBTCO) - Theo Bộ Tài chính, kết thúc quý I/2026, thu ngân sách nhà nước ghi nhận những kết quả tích cực khi ước hoàn thành 32,4% dự toán, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi ngân sách ước bằng 16,8% dự toán, tăng 23,1% so với cùng kỳ.
Tăng dự trữ dầu thô: “Lá chắn” an ninh năng lượng

Tăng dự trữ dầu thô: “Lá chắn” an ninh năng lượng

(TBTCO) - TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, việc mở rộng dự trữ dầu thô không chỉ là yêu cầu cấp bách để bảo đảm an ninh năng lượng, mà còn là “lá chắn” giúp nền kinh tế tăng khả năng chống chịu trước biến động toàn cầu.
Áp lực lãi suất gia tăng: Linh hoạt điều hành phát hành trái phiếu chính phủ

Áp lực lãi suất gia tăng: Linh hoạt điều hành phát hành trái phiếu chính phủ

(TBTCO) - Tháng 3/2026, trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước xuất hiện nhiều yếu tố bất lợi, Kho bạc Nhà nước đã chủ động, tích cực triển khai công tác huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ, góp phần bảo đảm nguồn lực cho ngân sách nhà nước phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều