Nhiều ngân hàng chịu sức ép về đích lợi nhuận cuối năm

(TBTCO) - Thống kê từ VPBankS Research cho thấy, tính đến hết quý III/2024, chỉ có 11/27 ngân hàng hoàn thành từ 75% kế hoạch kinh doanh lợi nhuận trước thuế trở lên và hầu hết tập trung ở các ngân hàng trung và nhỏ, chỉ có số ít ngân hàng lớn đạt đúng tiến độ.
aa
“Nội soi” lợi nhuận các ngân hàng dẫn đầu bảng xếp hạng Nhóm ngân hàng vẫn đóng góp nửa lợi nhuận toàn thị trường quý III Kỳ vọng lợi nhuận, chất lượng tài sản các ngân hàng cải thiện cuối năm

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới công bố, VPBankS Research dự báo, lợi nhuận trước thuế toàn ngành cả năm 2024 đạt 293.649 tỷ đồng và hiện tại nhóm ngân hàng niêm yết đã hoàn thành 74,3% kế hoạch kinh doanh dự phóng, dù toàn ngành bị ảnh hưởng bởi bão Yagi.

Nhiều ngân hàng lớn chậm chân hoàn thành kế hoạch

Nhìn lại bức tranh lợi nhuận quý III/2024, VPBankS Research cho biết, lợi nhuận trước thuế các ngân hàng niêm yết là 70.143 tỷ đồng, tăng 18% cùng kỳ và vượt kỳ vọng. Một số biến số bất ngờ đến từ những ngân hàng như: ABBank lỗ 343 tỷ đồng, HDBank tăng trưởng 43% cùng kỳ và Techcombank có kết quả thu nhập lãi thuần tốt hơn so với dự báo.

Kế hoạch kinh doanh toàn ngành niêm yết đạt 72% nhưng khi nhìn vào từng ngân hàng cụ thể, chỉ có 11/27 ngân hàng hoàn thành từ 75% kế hoạch kinh doanh lợi nhuận trước thuế trở lên và hầu hết tập trung ở các ngân hàng trung và nhỏ.

Các ngân hàng lớn hoàn thành đúng tiến độ kế hoạch kinh doanh chỉ có HDBank, SHB, Sacombank và Techcombank.

"Toàn ngành vẫn đạt được mức hoàn thành kế hoạch kinh doanh lợi nhuận trước thuế cao do các ngân hàng lớn như BIDV, Vietinbank, MB, Vietcombank đều đạt trên 70% kế hoạch kinh doanh và kế hoạch kinh doanh lợi nhuận trước thuế của 8 ngân hàng tư nhân lớn nhất cũng đạt mức trung bình 72,2%" - VPBankS Research đánh giá.

Nhiều ngân hàng chịu sức ép về đích lợi nhuận cuối năm

Ngân hàng thực hiện kế hoạch kinh doanh lợi nhuận trước thuế yếu nhất hiện nay là Ngân hàng An Bình (ABBank) khi chỉ hoàn thành 18% và ghi nhận lỗ 343 tỷ trong quý III. Ngược lại, ngân hàng có thể thong thả "về đích" do hoàn thành kế hoạch kinh doanh tốt nhất hiện nay ở mức 95% là KienlongBank nhưng quy mô của ngân hàng này nhỏ trong ngành.

Hai ngân hàng bán lẻ đầu ngành là VIB và VPBank đều chỉ ghi nhận hoàn thành lần lượt ở mức 55% và 60% kế hoạch kinh doanh. Điều này cho thấy tín dụng bán lẻ vẫn chưa hoàn toàn phục hồi và cạnh tranh trong mảng bán lẻ ngày càng khốc liệt.

NIM ngày càng thu hẹp

Về xu hướng tăng trưởng của thu nhập lãi thuần, nhóm nghiên cứu nhận thấy do tăng trưởng tín dụng tích cực hơn và chi phí vốn trở nên hấp dẫn hơn nên hầu hết các ngân hàng có tăng trưởng so với cùng kỳ. Tuy nhiên, khi nhìn vào NIM (biên lãi ròng), có thể nhận thấy sự cạnh tranh khốc liệt hơn nữa trong ngành ngân hàng khi hầu hết các ngân hàng giảm NIM so với cùng kỳ và việc giảm NIM nằm ở cả khối quốc doanh và tư nhân, chứ không chỉ ở khối tư nhân như trước.

"Điều này cho thấy có thể ngành ngân hàng đang rơi vào chu kỳ bão hòa khi lãi suất ở Việt Nam sẽ tiếp tục ở mặt bằng như hiện nay nên việc các ngân hàng đa dạng hóa được nguồn thu ngoài lãi là rất quan trọng" - VPBankS nhấn mạnh.

Nhiều ngân hàng chịu sức ép về đích lợi nhuận cuối năm

Khi nhìn vào thống kê tăng trưởng tín dụng quý III, nhóm phân tích cũng nhận thấy có một số ngân hàng chững lại về tăng trưởng tín dụng, khi tăng trưởng nóng vào nửa đầu năm nhưng giờ không còn động lực dù được nới thêm room tín dụng.

Còn các ngân hàng tư nhân nhỏ tăng trưởng rất mạnh mẽ như TPBank, BVBank, VIB, Nam A Bank. Các ngân hàng hầu hết sẽ được nới room thêm lên mức khoảng 18% và có thể trong tháng cuối năm sẽ được nới thêm nữa.

Cuối tháng 11, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phát đi thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng trong năm 2024. Việc bổ sung hạn mức tín dụng được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đảm bảo hiệu quả trong phân bổ vốn tín dụng. Lần điều chỉnh này, NHNN không yêu cầu các tổ chức tín dụng phải gửi đề nghị song không công bố chi tiết các điều kiện cụ thể để quyết định mức nới room đối với từng tổ chức tín dụng./.

Tính hết tháng 10, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 10,08% cùng kỳ, tức là còn 4,92% nữa để đẩy mạnh trong những tháng cuối năm. Đây vẫn là thách thức của ngành nhưng có thể kỳ vọng vào nhu cầu xây dựng lại cuộc sống sau bão Yagi, những đơn hàng xuất khẩu cho năm mới hay luồng vốn FDI mới từ các đối tác chiến lược toàn diện sau chuyến công tác của các lãnh đạo Chính phủ cấp cao. Do vậy, nhóm nghiên cứu VPBankS Research duy trì dự phóng tăng trưởng tín dụng 2024 ở mức tăng 14,83% so với cuối năm 2023.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - 8 tháng năm 2026, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã truy thu, thu hồi hàng trăm tỷ đồng qua công tác kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan xử lý chậm đóng, trốn đóng, tạo thêm cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động.
Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bứt tốc mạnh, có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận gấp hơn 10 lần cùng kỳ. Ở mảng kinh doanh cốt lõi, những “điểm sáng” phục hồi dần xuất hiện.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 16:00
Ngân hàng