“Nội soi” lợi nhuận các ngân hàng dẫn đầu bảng xếp hạng

Tú Anh
(TBTCO) - Soi xét lợi nhuận của các ngân hàng đứng đầu ở các phân khúc, có thể thấy thu nhập từ tín dụng vẫn là mảng đóng góp chính trong bức tranh lợi nhuận và giữ đà tăng trưởng. Với thu nhập ngoài lãi, nhiều nhà băng tăng trưởng mạnh mẽ nhưng biến động trái chiều.
aa
Ngân hàng Nhà nước bơm ròng trở lại, giá vàng tiếp tục neo ở mức cao kỷ lục Nhiều ngân hàng trung ương lớn sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong tuần tới

Thu nhập lãi thuần giữ đà tăng

Hiện 27 ngân hàng đang niêm yết và đăng ký giao dịch trên ba sàn chứng khoán đều công bố báo cáo tài chính quý III/2024 giúp bức tranh lợi nhuận các ngân hàng trong từng phân khúc được phác hoạ rõ nét. Tới thời điểm hiện nay, có 25/27 các ngân hàng đều báo lãi, chỉ có 2/27 nhà băng có quy mô “tí hon” báo lỗ như: Ngân hàng An Bình lỗ hơn 284 tỷ đồng so với mức lãi gần 24 tỷ đồng năm ngoái; Ngân hàng Quốc dân (NVB) lỗ 65,42 tỷ đồng.

“Nội soi” lợi nhuận các ngân hàng dẫn đầu bảng xếp hạng
25/27 các ngân hàng đều báo lãi. Ảnh: TL.

Cụ thể, trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý III/2024, Vietcombank đứng đầu toàn ngành ngân hàng về lợi nhuận sau thuế. Theo báo cáo tài chính quý III/2024 do Vietcombank (mã chứng khoán: VCB) vừa công bố, lãi sau thuế của ngân hàng này tăng trưởng 17,8%, đạt 8.572 tỷ đồng.

“Nội soi” lợi nhuận các ngân hàng dẫn đầu bảng xếp hạng
Nguồn số liệu: TBTCVN tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng.

Bóc tách rõ nét hơn, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của "ông lớn" này chỉ tăng 5% lên mức 11.024 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong quý 3, Vietcombank giảm đến 78% chi phí dự phòng rủi ro so với cùng kỳ, chỉ còn trích gần 326 tỷ đồng. Sau khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp, Vietcombank giữ vị trí đầu bảng về lợi nhuận.

Trong nhóm các ngân hàng chuyên cho vay cá nhân, VPBank (mã chứng khoán: VPB) đứng đầu bảng với lợi nhuận hợp nhất sau thuế quý III/2024 đạt 4.164 tỷ đồng và giữ tốc độ tăng trưởng cao nhất nhóm ngành, lên tới 71,5% cùng kỳ. Với mức lợi nhuận trên 4.000 tỷ đồng kể trên, VPBank xếp thứ 6 toàn ngành. Kết thúc 9 tháng, lợi nhuận sau thuế hợp nhất của VPBank đạt gần 11.000 tỷ đồng, tăng hơn 67% so với cùng kỳ năm 2023.

Mảng thu nhập lãi thuần (NII) dù không tăng trưởng cao (2%) nhưng đóng vai trò chính giúp ngân hàng thu lợi nhuận cao, đây là kết quả của việc kinh doanh tiền nhờ hoạt động huy động đầu vào và cho vay đầu ra.

Trong nhóm các ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp, MBBank (mã chứng khoán: MBB) đứng đầu bảng về lợi nhuận quý III/2024 và ở vị trí á quân nếu xét toàn ngành.

Cụ thể, trong quý III/2024, MBBank ghi nhận lợi nhuận sau thuế ở mức 5.843 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ năm trước. Nguồn thu chính là lãi thuần đạt 10.416 tỷ đồng và tăng 6,1% so với cùng kỳ. Luỹ kế 9 tháng, MBBank đạt lợi nhuận sau thuế trên 16.500 tỷ đồng.

Bức tranh kết quả kinh doanh 9 tháng của VPBank có dấu ấn không nhỏ của FE Credit khi quý 3 báo lãi gần 300 tỷ đồng. Đây là kết quả của quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ của công ty tài chính tiêu dùng, ưu tiên lựa chọn lọc phân khúc khách hàng chất lượng, đẩy mạnh thu hồi nợ và tinh chỉnh bộ máy hoạt động.

Nguồn thu chính của ngân hàng là lãi thuần trong quý III/2024 mang về gần 12.156 tỷ đồng, tăng trưởng tới 38% so với cùng kỳ năm ngoái.

Như vậy, sau khi soi xét động lực giúp các ngân hàng báo lãi lớn, có thể thấy mảng thu nhập lãi thuần đem lại nguồn thu chính trên 70% cho các ngân hàng. Trong khi mảng thu nhập lãi thuần của Vietcombank, MBBank giữ đà tăng trưởng ổn định, lần lượt ở mức 5% và 6% trong quý III/2024 thì VPBank bứt phá tăng trưởng hai con số 38%. Tính chung 9 tháng 2024, thu nhập lãi thuần tại Vietcombank và MBBank tăng trưởng chậm rãi chỉ 2%, trong khi VPBank tăng trưởng khả quan hơn lên tới 32% cùng kỳ.

“Nội soi” lợi nhuận các ngân hàng dẫn đầu bảng xếp hạng
Mảng thu nhập lãi thuần (NII) dù không tăng trưởng cao (2%) nhưng đóng vai trò chính giúp ngân hàng thu lợi nhuận cao. Ảnh: TL.

Thu ngoài lãi liệu “cứu cánh” cho lợi nhuận ngân hàng?

Trái chiều với sự tăng trưởng ổn định về thu nhập lãi thuần, thu nhập ngoài lãi 9 tháng 2024 của Vietcombank giảm 15% cùng kỳ, đạt trên 9.300 tỷ đồng. Mức giảm chủ yếu đến từ: (i) lợi nhuận ròng từ hoạt động kinh doanh ngoại hối giảm 22,3% so với mức nền cao trong 9 tháng 2023; (ii) lợi nhuận ròng từ giao dịch trái phiếu giảm 55,8%; (iii) thu nhập khác ròng giảm 41,6%.

Lũy kế 9 tháng năm 2024, Vietcombank lãi sau thuế hơn 25.280 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ 2023. Lợi nhuận trong 9 tháng 2024 tăng so với cùng kỳ chủ yếu do chi phí dự phòng giảm 44,7% cùng kỳ, bù đắp cho mức giảm 15% của thu nhập ngoài lãi (NOII) kể trên.

Với kết quả này, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí quán quân lợi nhuận của ngành ngân hàng. Các khoản thu ngoài lãi của ngân hàng MBBank cho thấy mức tăng trưởng tích cực luỹ kế 9 tháng đạt 8.800 tỷ đồng, tăng 47% cùng kỳ.

“Nội soi” lợi nhuận các ngân hàng dẫn đầu bảng xếp hạng
Nguồn số liệu: TBTCVN tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng.

Các khoản kinh doanh ngoài lãi khác cũng mang lại cho VPBank kết quả tích cực, tăng 20,3% cùng kỳ. Cụ thể, trong quý III/2024, kinh doanh ngoại hối đảo chiều báo lãi hơn 96 tỷ đồng trong khi cùng kỳ lỗ 63 tỷ đồng.

Cùng với đó, lãi từ chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư mang về 116 tỷ đồng và 17 tỷ đồng, lần lượt tăng 31% và 54% so với cùng kỳ. Lãi thuần từ hoạt động khác gấp 3 lần, lên mức trên 1.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng 2024, các khoản kinh doanh ngoài lãi đem về cho VPBank trên 8.700 tỷ đồng, giảm 5,9% cùng kỳ.

Tựu trung, thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng lại có tốc độ tăng trưởng ấn tượng hơn đến từ nhiều hoạt động đa dạng như: dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán đầu tư… Đây là nguồn động lực mới giúp cải thiện lợi nhuận cho nhiều nhà băng song tăng trưởng chưa ổn định. Chẳng hạn, MBBank tăng trưởng 32% trong 9 tháng năm 2024 nhưng so sánh theo quý thì chỉ tăng nhẹ 2%; VPBank thì ngược lại, tăng trưởng quý III/2024 lên tới 20% nhưng tính chung 9 tháng năm 2024 lại giảm 6%./.

Tú Anh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 145,300
Hà Nội - PNJ 142,300 145,300
Đà Nẵng - PNJ 142,300 145,300
Miền Tây - PNJ 142,300 145,300
Tây Nguyên - PNJ 142,300 145,300
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 145,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 14,530
Miếng SJC Nghệ An 14,230 14,530
Miếng SJC Thái Bình 14,230 14,530
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 14,580
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 14,580
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 14,490
Trang sức 99.99 13,900 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 14,532
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 14,533
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 1,449
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 1,438
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 142,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 108,011
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 97,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 87,877
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 83,994
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 60,121
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 1,453
Cập nhật: 16/09/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17966 18241 18820
CAD 18122 18397 19017
CHF 31081 31459 32106
CNY 0 3825 3922
EUR 29314 29534 30615
GBP 34177 34568 35505
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14647 15235
SGD 19864 20145 20716
THB 695 759 812
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 16/09/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30