Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24.2:

Nhiều ngân hàng hạ lãi suất, tỷ giá diễn biến trái chiều

Chí Tín
(TBTCO) - Tiếp tục có nhiều ngân hàng đưa ra các mức lãi suất thấp hơn và các chương trình khuyến mại với ưu đãi lãi suất cho khách vay, Ngân hàng Nhà nước cũng đã đốc thúc việc kết nối doanh nghiệp để khơi thông dòng vốn. Trong khi đó, tỷ giá USD trung tâm và tỷ giá do Vietcombank niêm yết lại diễn biến theo 2 chiều hướng ngược nhau.
aa

Lãi suất giảm với quy mô rộng hơn

Tiếp nối các tín hiệu hạ lãi suất của một số ngân hàng trong tuần trước, tuần này có thêm nhiều ngân hàng phát đi tín hiệu giảm lãi suất cả đầu vào lẫn đầu ra, qua đó mở rộng quy mô giảm lãi suất.

Lãi suất liên ngân hàng biến động ngược với thông báo lãi suất của các ngân hàng

Trong khi nhiều ngân hàng thông báo các chương trình giảm lãi suất, thì lãi suất liên ngân hàng lại có xu hướng tăng trong tuần qua. Đến thời điểm ngày 22/2, lãi suất qua đêm đã tăng lên mức 6,11%, lãi suất kỳ hạn 1 tuần là 6,32%, kỳ hạn 2 tuần 5,68%, kỳ hạn 1 tháng là 7,8%...

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đã áp dụng biểu lãi suất mới và đồng loạt giảm mạnh ở nhiều kỳ hạn. Hiện nay, lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn truyền thống cho tiền gửi tại quầy chỉ còn 5,5% với kỳ hạn 1 tháng, 5,7% với kỳ hạn 3 tháng. Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cũng đã đưa ra mức lãi suất huy động mới, với lãi suất cao nhất tại ngân hàng này cũng chỉ còn ở mức khoảng 8,4%/năm.

Với đầu ra, Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) vừa cho biết, đã tung gói ưu đãi 3.000 tỷ đồng, giảm lãi suất cho vay tối đa 1%/năm cho các khoản vay ngắn hạn phục vụ mục đích kinh doanh. Công ty Tài chính TNHH MTV Shinhan Việt Nam (Shinhan Finance) cũng đã hợp tác với Ford Việt Nam, chính thức triển khai chương trình ưu đãi, với lãi suất đặc biệt khi vay mua ô tô tiêu dùng. Theo đó, Ford sẽ tài trợ 3% lãi suất năm đầu tiên (quy đổi thành tiền mặt) cho khách hàng khi vay vốn tại Shinhan Finance.

Nhiều ngân hàng hạ lãi suất, tỷ giá diễn biến trái chiều
Nhiều ngân hàng công bố các chương trình ưu đãi lãi suất. Ảnh: T.L

Thúc đẩy kết nối vốn tín dụng đến với doanh nghiệp

Trong tuần qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) yêu cầu NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố triển khai tổ chức hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp trên địa bàn trong tháng 2/2023 theo hình thức phù hợp để đối thoại trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng; nắm bắt các khó khăn vướng mắc liên quan đến việc tiếp cận vốn vay ngân hàng để kịp thời xử lý, tháo gỡ.

NHNN chi nhánh chủ động phối hợp với sở kế hoạch và đầu tư, các sở, ban, ngành và hiệp hội có liên quan tại địa phương rà soát tình hình tiếp cận vốn vay của các doanh nghiệp; nắm rõ thông tin về các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay ở ngân hàng nào (doanh nghiệp không đủ điều kiện hay ngân hàng không cho vay) và nguyên nhân không tiếp cận được. Các nội dung này phải được thông tin công khai và làm rõ tại hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp của địa phương.

Tỷ giá diễn biến trái chiều

Tỷ giá trong tuần qua đã có diễn biến ổn định hơn. Tỷ giá USD trung tâm mở cửa phiên đầu tuần ở mức 23.646 đồng/USD, sau đó đã có 2 phiên giảm, một phiên đứng giá và chỉ tăng nhẹ 1 đồng trong phiên cuối tuần. Chốt tuần, tỷ giá USD trung tâm ghi nhận ở mức 23.642 đồng/USD, thấp hơn 4 đồng so với hôm đầu tuần.

Trong khi tỷ giá USD trung tâm có diễn biến đi xuống trong tuần, thì tỷ giá USD tại Vietcombank lại diễn biến theo chiều hướng tăng. Vietcombank mở đầu tuần mới niêm yết tỷ giá USD ở mức 23.530/23.560/23.900 đồng/USD (mua tiền mặt/mua chuyển khoản/bán ra). Sau đó, ngân hàng này có xu hướng tăng tỷ niêm yết qua từng phiên giao dịch trong tuần và kết thúc tuần ở mặt bằng mới là 23.630/23.660/24.000 đồng/USD.

Hiện nay, giới kinh doanh vẫn đang dõi theo các số liệu kinh tế tháng 2 để nắm bắt xu hướng tiếp theo của tỷ giá. Bối cảnh chung cho thấy hiện tại cung cầu ngoại tệ vẫn đang trong trạng thái khá ổn định. Tuy nhiên, tỷ giá có thể có diễn biến tăng nhẹ bởi quan điểm điều hành của NHNN gần đây cho thấy đang ưu tiên cho việc giảm lãi suất và qua đó chính sách tiền tệ có thể chấp nhận tỷ giá có thể tăng ở mức độ trong tầm kiểm soát.

Nhiều ngân hàng hạ lãi suất, tỷ giá diễn biến trái chiều
Lãi suất thường có những biến động ngược chiều với giá vàng. Ảnh: T.L

Vàng biến động với biên độ hẹp

Giá vàng vẫn chưa xác định rõ xu hướng và biến động tăng giảm xen kẽ với biên độ nhỏ trong tuần vừa qua.

Hôm đầu tuần này ngày 20/2, giá vàng miếng 9999 SJC tại Hà Nội tăng 50 nghìn đồng/lượng ở cả chiều mua vào và chiều bán ra so với kết thúc phiên giao dịch cuối tuần trước, ghi nhận ở mức 66,35 triệu đồng/lượng mua vào và 67,17 triệu đồng/lượng bán ra.

Sau đó, giá vàng tiếp tục chỉ có những biến động nhẹ trong các ngày còn lại trong tuần và ghi nhận mức giá vào sáng 24/2 là 66,2 triệu đồng/lượng mua vào và 67,02 triệu đồng/lượng bán ra.

Diễn biến thị trường tiền tệ thế giới cho thấy giá vàng đang chịu áp lực điều chỉnh xuống trong bối cảnh nhà đầu tư lo ngại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) kéo dài kế hoạch tăng lãi suất. Theo đó, nếu như FED nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản (0,25%) trong ba cuộc họp sắp tới, thay vì hai cuộc họp vào giữa tháng 3 và tháng 5 như dự kiến trước đó thì giá vàng thế giới có thể tiếp tục bước vào xu hướng giảm và điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến giá vàng trong nước.

Sẽ có đường dây nóng tiếp nhận thông tin của người dân

NHNN đã có yêu cầu các tổ chức tín dụng (TCTD) thành lập đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh, kiến nghị (điện thoại, email) của người dân và doanh nghiệp; yêu cầu các chi nhánh TCTD có trách nhiệm xử lý, trả lời rõ ràng về ý kiến của TCTD đối với việc cấp tín dụng cho từng trường hợp cụ thể.

Chủ động, kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc trong hệ thống; báo cáo chính quyền địa phương, NHNN, các bộ, ngành liên quan về các khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền; đề xuất, kiến nghị trong quá trình triển khai thực hiện.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/9): USD đồng loạt đi xuống, đồng Yên lên đỉnh 6 tháng sau 98 tỷ USD can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/9): USD đồng loạt đi xuống, đồng Yên lên đỉnh 6 tháng sau 98 tỷ USD can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/9, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng, xuống 25.603 đồng/USD; USD tại ngân hàng và thị trường tự do cùng đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,08%, xuống 98,85 điểm. Đồng yên Nhật tiếp tục mạnh lên, kéo tỷ giá USD/JPY xuống gần 153,5 - thấp nhất 6 tháng, khi Nhật Bản chi kỷ lục 98 tỷ USD can thiệp và thị trường kỳ vọng BoJ tăng lãi suất 25 điểm cơ bản trong tháng 9.
Tỷ giá USD hôm nay (7/9): Tỷ giá trung tâm tăng đầu tuần, CPI Mỹ trở thành tâm điểm trước cuộc họp của Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/9): Tỷ giá trung tâm tăng đầu tuần, CPI Mỹ trở thành tâm điểm trước cuộc họp của Fed

(TBTCO) - Sáng 7/9, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần tăng 6 đồng, lên 25.611 đồng/USD, trong khi USD tại các ngân hàng diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,05% xuống 99,14 điểm. Tâm điểm tuần này là CPI Mỹ tháng 8, dữ liệu quan trọng định hình kỳ vọng trước cuộc họp ngày 16/9, khi thị trường nghiêng về khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay (5/9): Tỷ giá trung tâm dứt 16 tuần leo dốc, việc làm Mỹ tăng vọt củng cố Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (5/9): Tỷ giá trung tâm dứt 16 tuần leo dốc, việc làm Mỹ tăng vọt củng cố Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 5/9, tỷ giá trung tâm kết tuần ở 25.605 đồng, giảm 5 đồng, đảo chiều sau 16 tuần tăng ròng rã tổng cộng 495 đồng; USD ngân hàng và tự do cùng hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,16 điểm, bật tăng sau báo cáo việc làm Mỹ tích cực, với 162.000 việc làm được tạo thêm trong tháng 8, vượt dự báo củng cố dư địa để Fed cân nhắc tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 10.787 tỷ đồng qua kênh OMO khi lãi suất qua đêm bật từ quanh 1% lên 6%/năm, quy mô “vay nóng” liên ngân hàng hai kỳ hạn ngắn vượt 2 triệu tỷ đồng. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm đảo chiều sau 16 tuần tăng liên tiếp, USD đồng loạt hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (4/9): USD diễn biến phân hóa, DXY giảm mạnh khi Fed để ngỏ giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (4/9): USD diễn biến phân hóa, DXY giảm mạnh khi Fed để ngỏ giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 4/9, tỷ giá trung tâm giảm 10 đồng xuống 25.605 đồng, USD tự do cũng giảm 50 - 60 đồng, trong khi nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng. Trên thị trường quốc tế, DXY mất 0,72%, xuống 98,9 điểm. Đồng USD chịu áp lực khi Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Christopher Waller nghiêng về giữ nguyên lãi suất tháng 9 nếu dữ liệu lạm phát tiếp tục hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (3/9): Tỷ giá trung tâm tăng sau kỳ nghỉ lễ, USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (3/9): Tỷ giá trung tâm tăng sau kỳ nghỉ lễ, USD được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 3/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.615 đồng sau kỳ nghỉ lễ dài ngày, trong khi chỉ số DXY giảm nhẹ 0,05% xuống 99,5 điểm. Đồng USD vẫn ổn định nhờ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể tăng lãi suất tháng 9 và rủi ro địa chính trị. Thị trường cũng đánh giá xác suất 95% khả năng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng tăng lãi suất tháng này.
Tỷ giá USD hôm nay (2/9): DXY tiến sát 100 điểm, kỳ vọng nâng lãi suất lan rộng tại nhiều ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (2/9): DXY tiến sát 100 điểm, kỳ vọng nâng lãi suất lan rộng tại nhiều ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 2/9, tỷ giá trung tâm neo ở 25.610 đồng. Chỉ số DXY nhích lên 99,74 điểm, đồng USD mạnh lên khi lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm lên 4,8%, cao nhất kể từ đầu năm 2025, trong khi giá dầu tăng mạnh. Cùng lúc, kỳ vọng thắt chặt tiền tệ tại Anh, New Zealand và Nhật Bản, với khả năng các ngân hàng trung ương nâng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

(TBTCO) - Phiên đầu tháng 1/9, trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, tỷ giá trung tâm giữ ở mức 25.610 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi về 99,41 điểm, thị trường định giá 64% khả năng Fed tăng lãi suất ngày 16/9. Tại châu Âu, giới đầu tư chờ Chỉ số giá tiêu dùng hài hòa (HICP) tháng 8, khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1800K 144,400 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1800K 144,400 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1800K 144,400 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1800K 144,400 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1800K 144,400 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1800K 144,400 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,200 ▼160K 14,500 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,200 ▼160K 14,500 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,200 ▼160K 14,500 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼120K 14,550 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼120K 14,550 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼120K 14,550 ▼110K
NL 99.99 13,555 ▼95K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,455 ▼95K
Trang sức 99.9 13,860 ▼110K 14,460 ▼110K
Trang sức 99.99 13,870 ▼110K 14,470 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼22K 14,442 ▼220K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼22K 14,443 ▼220K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▼22K 1,439 ▼22K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▼22K 144 ▼1318K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼22K 1,429 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼2178K 141,485 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼1650K 107,336 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▼1496K 97,332 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▲69641K 87,328 ▲78461K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▼1283K 83,469 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼918K 59,745 ▼918K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼22K 1,444 ▼22K
Cập nhật: 11/09/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18000 18274 18851
CAD 18185 18461 19079
CHF 31186 31564 32208
CNY 0 3819 3915
EUR 29431 29652 30732
GBP 34175 34565 35502
HKD 0 3174 3377
JPY 161 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14762 15350
SGD 19891 20173 20743
THB 697 760 813
USD (1,2) 25656 0 0
USD (5,10,20) 25694 0 0
USD (50,100) 25722 25736 26103
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,740 25,740 26,120
USD(1-2-5) 24,711 - -
USD(10-20) 24,711 - -
EUR 29,523 29,547 30,950
JPY 163.34 163.63 173.55
GBP 34,408 34,501 35,698
AUD 18,227 18,293 18,998
CAD 18,387 18,446 19,128
CHF 31,507 31,605 32,541
SGD 20,036 20,098 20,886
CNY - 3,792 3,937
HKD 3,239 3,249 3,386
KRW 17.76 18.52 20.15
THB 746.18 755.4 809.11
NZD 14,746 14,883 15,325
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,960 4,100
NOK - 2,746 2,844
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,946 - 6,714.93
TWD 740.18 - 896.8
SAR - 6,786.63 7,149.08
KWD - 82,280 87,556
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25720 25720 26120
AUD 18222 18322 19247
CAD 18382 18482 19496
CHF 31474 31504 33086
CNY 3804.7 3829.7 3965.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29651 29681 31406
GBP 34526 34576 36333
HKD 0 3330 0
JPY 164.22 164.72 175.27
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20068 20198 20920
THB 0 727.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,745 26,130
USD20 25,665 25,745 26,130
USD1 25,645 25,745 26,130
AUD 18,255 18,355 19,475
EUR 29,450 29,550 31,229
CAD 18,330 18,430 19,746
SGD 20,144 20,294 20,862
JPY 164.99 166.49 172.16
GBP 34,416 34,566 35,654
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/09/2026 12:00
Ngân hàng