“Phải tính nhiều giải pháp chứ không chỉ nghĩ đến giảm thuế xăng dầu”

Minh Anh (thực hiện)
(TBTCO) - Theo chuyên gia kinh tế, PGS.TS Ngô Trí Long, giải bài toán về giá xăng dầu trong lúc này không hề dễ dàng. Nếu trong bối cảnh giá xăng dầu tăng quá cao, cơ quan quản lý cũng nên cân nhắc đến việc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt hay thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, việc giảm thuế cần phải cân nhắc kỹ và xin ý kiến Quốc hội, không thể giảm trong “ngày một ngày hai”, do đó, phải tính toán đồng bộ các giải pháp.
aa

PV: Thưa ông, giá xăng dầu trong nước liên tục lập đỉnh do giá thế giới tăng cao. Nhiều ý kiến đề nghị giảm thuế để giảm giá mặt hàng này. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

PGS.TS. Ngô Trí Long: Hiện nay, giá xăng dầu trong nước phụ thuộc vào 3 yếu tố đó là: giá thế giới, thuế và Quỹ Bình ổn giá. Đến nay, giá xăng dầu thế giới tăng rất cao, Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đã âm, do đó, van điều tiết từ quỹ không còn tác dụng. Vậy thì giá xăng dầu muốn giảm, cần “van điều tiết” đó là công cụ thuế.

“Phải tính nhiều giải pháp chứ không chỉ nghĩ đến giảm thuế xăng dầu”
PGS.TS. Ngô Trí Long

Câu hỏi đặt ra là có nên giảm thuế hay không? Muốn trả lời thì chúng ta cần nhìn nhận nó ở nhiều góc độ. Đúng là trên thực tế, nhiều nước giàu hiện nay đã giảm thuế và sử dụng nhiều công cụ điều tiết khác để giảm giá xăng dầu.

Đối với nước ta, tôi cho rằng, một chính sách phải thực hiện được đa mục tiêu. Hiện nay chúng ta cũng phải đảm bảo cân đối nguồn thu để đáp ứng các nhu cầu chi như chi thường xuyên, chi đầu tư, chi cho an ninh quốc phòng, an sinh xã hội. Vừa qua, chúng ta đã thực hiện gói hỗ trợ tài khóa, tiền tệ rất lớn thực hiện Nghị quyết số 43/2022/QH15 cho chương trình phục hồi và phát triển kinh tế. Như Bộ trưởng Bộ Tài chính đã thông báo trước Quốc hội, trong 5 tháng qua đã hỗ trợ hơn 26 nghìn tỷ đồng, miễn, giảm thuế trên tổng số hơn 64 nghìn tỷ đồng. Đây là con số rất lớn mà ngân sách phải bỏ ra hỗ trợ tổng thể nền kinh tế.

Nghĩa là đã giảm nhiều khoản thuế, phí, lệ phí rồi, nếu giảm thêm nhiều khoản thuế đối với giá xăng sẽ “làm khó” cho ngân sách nhà nước.

PV: Vâng, đúng như ông phân tích, trên thực tế Quốc hội, Chính phủ đã thực hiện giảm rất nhiều khoản thuế, phí, lệ phí trong suốt hơn 2 năm chống dịch bệnh. Ông nhận xét gì khi có nhiều ý kiến cho rằng, tại sao Chính phủ không đề xuất giảm về 0 đồng với thuế bảo vệ môi trường (BVMT), hoặc có thể cân nhắc giảm thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế giá trị gia tăng (GTGT)…?

PGS.TS. Ngô Trí Long: Đây cũng là những ý kiến rất đáng lưu ý. Đối với thuế BVMT mới đây Bộ Tài chính đề xuất giảm thêm 1.000 đồng/lít đối với xăng về mức sàn. Có ý kiến cho rằng, tại sao không giảm hết về 0 đồng là bởi vì nếu giảm về 0 đồng, vô hình trung sẽ không còn loại thuế đó nữa. Như vậy, đề xuất giảm về mức sàn của Bộ Tài chính là hợp lý.

Đối với thuế TTĐB, quy định với những mặt hàng xa xỉ, hàng Nhà nước không khuyến khích và có tác động đến môi trường. Xăng sản xuất từ nguyên liệu hóa thạch, từ dầu mỏ nên phải thực hiện tiết kiệm và phải đánh thuế TTĐB.

Nguồn: Bộ Công thương Đồ họa: Hồng Vân
Nguồn: Bộ Công thương Đồ họa: Hồng Vân

Còn đối với thuế GTGT, hiện nay Nhà nước giảm 2% đối với các loại hàng hóa, dịch vụ đang chịu thuế suất 10%. Tuy nhiên, Quốc hội đã quyết định không giảm mức thuế GTGT đối với các mặt hàng chịu thuế TTĐB (trong đó có mặt hàng xăng) và dầu mỏ tinh chế.

Mới đây, Bộ Tài chính đã đề xuất điều chỉnh giảm thuế suất MFN đối với xăng từ mức 20% xuống mức 12% (chênh 4% so với thuế suất FTA từ Hàn Quốc và ASEAN). Đối với mặt hàng dầu hiện đang áp dụng mức thuế suất MFN là 7% đã đảm bảo phù hợp với cam kết quốc tế. Mức chênh lệch 4% giữa thuế suất MFN và thuế suất FTA đối với xăng cũng là hợp lý để thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tìm kiếm các nguồn cung xăng mới trong trường hợp nguồn cung xăng từ các thị trường truyền thống bị thiếu hụt, đồng thời vẫn đảm bảo được dư địa đàm phán các Hiệp định FTA mới trong tương lai trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.

PV: Hiện chúng ta vẫn phải “co kéo” giữa nhiều mục tiêu, vừa phải kiểm soát lạm phát, vừa thúc đẩy tăng trưởng và ổn định đời sống cho người dân. Theo ông, phải làm gì để bình ổn được giá xăng dầu trong mức chịu đựng của người dân và nền kinh tế?

PGS.TS. Ngô Trí Long: Giải bài toán về giá xăng dầu trong lúc này không hề dễ dàng. Nếu trong bối cảnh xăng dầu tăng quá cao, cơ quan quản lý cũng nên cân nhắc đến việc giảm thuế TTĐB hay GTGT. Tuy nhiên, việc thực hiện điều chỉnh thuế TTĐB, thuế GTGT thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên phải trình Quốc hội xem xét, quyết định và thường không thể giảm trong “ngày một ngày hai”. Do đó, tôi cho rằng, trong trước mắt, Bộ Công thương cần phải tính toán, khuyến khích các doanh nghiệp xăng dầu đầu mối tìm nguồn xăng dầu rẻ để mua về góp phần giảm giá. Việc khôi phục lại sản xuất của 2 nhà máy lọc dầu trong nước cũng phải làm khẩn trương hơn. Cùng với đó, việc tiết kiệm sử dụng xăng dầu trong bối cảnh giá tăng cao cũng phải được người dân, doanh nghiệp tính toán.

Giá xăng dầu trong nước có tỷ lệ tăng thấp hơn so với thị trường thế giới

Do một số nguyên nhân như xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine, nguồn cung khan hiếm, do sự phục hồi kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới làm tổng cầu đối với mặt hàng xăng dầu tăng cao... vì vậy trong 6 tháng đầu năm 2022, giá xăng dầu thành phẩm liên tục tăng cao. Giá bình quân một số mặt hàng thành phẩm xăng dầu thế giới (giao dịch trên thị trường Singapore) đến nay biến động tăng từ 41,36% đến 84,34% so với đầu năm 2022.

Ở trong nước, để giảm thiểu ảnh hưởng do sự biến động giá xăng dầu trên thị trường thế giới đối với giá xăng dầu trong nước, Liên Bộ Công thương - Tài chính đã sử dụng hiệu quả Quỹ Bình ổn giá, đảm bảo phù hợp với quy định. Giá xăng dầu trong nước đã có mức tăng thấp hơn mức tăng giá xăng dầu trên thị trường thế giới. Qua thống kê của các cơ quan chức năng cho thấy, giá xăng dầu các loại đến kỳ điều hành ngày 13/6/2022 so với kỳ điều hành ngày 11/1/2022 tăng từ 3.995 - 10.781 đồng/lít/kg (tùy loại xăng dầu), tương đương tăng từ 24,42% - 62,44%. Như vậy, so với tốc độ tăng giá thành phẩm thế giới (41,36% đến 84,34%) thì giá xăng dầu trong nước có tỷ lệ tăng thấp hơn (24,42% - 62,44%).

Trong công thức tính giá cơ sở mặt hàng xăng dầu, gồm chính sách thuế, cơ cấu thuế, chi phí kinh doanh và các yếu tố cấu thành trong giá cơ sở. Về chính sách thuế hiện hành áp dụng đối với mặt hàng xăng dầu gồm: thuế nhập khẩu (đối với xăng dầu nhập khẩu), thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt (đối với xăng) và thuế bảo vệ môi trường (không thu phí, lệ phí đối với xăng dầu), đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn của Việt Nam. Các chính sách thuế đang thực hiện theo quy định và các cam kết quốc tế.

Nghĩa là chúng ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, chứ không chỉ tính đến việc giảm thuế mỗi khi giá xăng dầu tăng cao. Theo dự báo của Bộ Công thương, giá bình quân các mặt hàng xăng dầu cả năm 2022 sẽ ở mức 130 - 140 USD/thùng, nên chúng ta phải chủ động các phương án từ sớm, từ xa, chứ không thể mỗi khi xăng dầu tăng cao lại “ép” giảm thuế.

Tôi cho rằng, nên để giá xăng tiệm cận dần theo giá thị trường, nếu dùng thuế để điều chỉnh giá xăng dầu sẽ dễ tạo ra sự không bình đẳng, không công bằng trong nền kinh tế, bởi vì có những lĩnh vực sử dụng nhiều xăng dầu và những lĩnh vực dùng ít hơn. Khi Nhà nước đã ban hành các sắc thuế thì phải đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp, việc dùng thuế để can thiệp vào giá thị trường nên có mức độ.

Các bộ, ngành, địa phương cũng phải cùng vào cuộc, ví như Bộ Công thương, cần phải làm tốt công tác dự báo, có kịch bản điều hành phù hợp. Cùng với đó, cần chỉ đạo cơ quan quản lý thị trường, tăng cường thanh tra kiểm tra cũng như đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong mọi tình huống. Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, các địa phương cần vào cuộc, tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống thất thu ngân sách. Còn đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, cũng như các doanh nghiệp sử dụng nhiều xăng dầu như vận tải, logistics,.. nghiên cứu sử dụng công cụ hedging để phòng ngừa rủi ro biến động giá xăng dầu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Minh Anh (thực hiện)

Đọc thêm

Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn gắn với niêm yết góp phần “nâng chất” doanh nghiệp

Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn gắn với niêm yết góp phần “nâng chất” doanh nghiệp

(TBTCO) - Theo ông Nguyễn Hoàng Dương - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, việc đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn gắn với IPO và niêm yết không chỉ giúp doanh nghiệp nhà nước nâng cao chất lượng quản trị, minh bạch hoạt động và mở rộng khả năng huy động vốn, mà còn góp phần gia tăng nguồn hàng hóa chất lượng cho thị trường chứng khoán.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
Minh bạch trở thành trọng tâm của thị trường trái phiếu

Minh bạch trở thành trọng tâm của thị trường trái phiếu

(TBTCO) - Theo ông Ngọ Trường Nam - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng giao thông Đèo Cả (HHV), trong bối cảnh nhu cầu vốn dài hạn cho hạ tầng gia tăng và áp lực đáo hạn trái phiếu giai đoạn 2026 - 2027 còn lớn, doanh nghiệp phát hành cần nâng cao minh bạch, quản trị dòng tiền và cơ cấu nguồn vốn nhằm bảo đảm nghĩa vụ thanh toán và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Bài cuối: Hiện thực hóa mục tiêu đưa dự trữ thành nguồn lực chiến lược

Bài cuối: Hiện thực hóa mục tiêu đưa dự trữ thành nguồn lực chiến lược

(TBTCO) - Sự ra đời của Luật Dự trữ quốc gia năm 2025 đã đánh dấu một cột mốc lịch sử, làm thay đổi căn bản tư duy và định hướng của ngành Dự trữ. Xung quanh chủ đề này, phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với Cục trưởng Cục Dự trữ Nhà nước Bùi Tuấn Minh để làm rõ hơn những nội dung mới của chính sách dự trữ.
Xuất khẩu nông sản tăng trưởng hai con số: Gỡ điểm nghẽn, mở rộng thị trường

Xuất khẩu nông sản tăng trưởng hai con số: Gỡ điểm nghẽn, mở rộng thị trường

(TBTCO) - Trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động và các thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn nhập khẩu, việc duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tháo gỡ các “nút thắt” trong chuỗi cung ứng. Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) về giải pháp giữ vững đà tăng trưởng xuất khẩu nông sản trong thời gian tới.
Khai thác, xử lý nhà, đất dôi dư phải về đích trong quý II/2026

Khai thác, xử lý nhà, đất dôi dư phải về đích trong quý II/2026

(TBTCO) - Hàng chục nghìn cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy đã được xác định chủ thể quản lý, nhưng một khối lượng lớn vẫn còn phải xử lý ở bước tiếp theo để đưa vào khai thác, sử dụng hiệu quả. Trong khi đó, yêu cầu hoàn thành xử lý trong quý II/2026 đang đến gần. Bà Trần Diệu An - Phó Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính cho rằng, nếu không có giải pháp đủ mạnh, đồng bộ và sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, nguy cơ chậm tiến độ là rất rõ ràng.
Kinh tế Halal là “chìa khóa” mở rộng hợp tác Việt Nam - Ấn Độ

Kinh tế Halal là “chìa khóa” mở rộng hợp tác Việt Nam - Ấn Độ

(TBTCO) - Thị trường hơn 200 triệu người Hồi giáo tại Ấn Độ đang mở ra dư địa lớn cho hàng hóa Việt Nam, song kim ngạch xuất khẩu Halal vẫn còn khiêm tốn. Trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Đinh Công Hoàng - Trưởng Phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ là “đòn bẩy” quan trọng để hai nước thúc đẩy hợp tác, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Halal.
Điều chỉnh quy hoạch quốc gia mở đường cho mô hình tăng trưởng mới

Điều chỉnh quy hoạch quốc gia mở đường cho mô hình tăng trưởng mới

(TBTCO) - Theo Thứ trưởng Trần Quốc Phương, việc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và 6 quy hoạch vùng thể hiện rõ quan điểm phát triển mới của Việt Nam trong giai đoạn tới. Những ngành động lực mới, các hành lang kinh tế chiến lược và định hướng lấy khoa học công nghệ làm trung tâm đang mở đường cho quá trình xác lập mô hình tăng trưởng của đất nước.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều