Phân hóa giữa lãi suất huy động và cho vay gây áp lực lên biên lãi ròng trong giai đoạn cuối năm

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, trong giai đoạn cuối năm 2024, sự phân hóa giữa lãi suất huy động và cho vay sẽ tạo áp lực lên biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng. Những ngân hàng có lợi thế huy động vốn, chất lượng tài sản tốt, và tăng cường cho vay bán lẻ sẽ có cơ hội mở rộng NIM. Ngược lại, các ngân hàng thương mại sẽ đối mặt với áp lực giảm NIM do chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động thu hẹp.
aa
Tín dụng sẽ tập trung vào các ngân hàng nào?
Biên lãi ròng ngành ngân hàng dự báo giảm nhẹ trong năm 2024

Biên lãi ròng giảm

Theo báo cáo ngành Ngân hàng từ Công ty Chứng khoán Agribank (Agriseco), NIM của toàn ngành đã giảm nhẹ trong 6 tháng đầu năm, đạt khoảng 3,27%. Mức này thấp hơn so với mức 3,42% so với cùng kỳ năm 2023 và 3,4% trong nửa cuối năm 2023. NIM hiện đã trở về ngưỡng bình thường như trước đại dịch Covid-19 nhưng thấp hơn so với giai đoạn 2021 - 2022, khi lãi suất cho vay giảm chậm hơn lãi suất tiền gửi.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2024, cả lãi suất cho vay và tiền gửi đều giảm. Cụ thể, lãi suất cho vay bình quân giảm xuống còn 8,3%/năm, giảm 0,96% so với cuối năm 2023, trong khi lãi suất tiền gửi bình quân giảm xuống còn 3,59%/năm, giảm 1,08%.

Phân hóa giữa lãi suất huy động và cho vay gây áp lực lên biên lãi ròng trong giai đoạn cuối năm

Trước đó, theo báo cáo ngành Ngân hàng của Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS), đến cuối quý I/2024, NIM toàn ngành giảm nhẹ còn 3,37% từ mức 3,40% vào cuối năm 2023.

Nguyên nhân là do tỷ suất sinh lời trên tài sản giảm nhanh hơn chi phí huy động. Lãi suất cho vay giảm do cạnh tranh trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng chậm, nợ xấu gia tăng, và các ngân hàng hỗ trợ khách hàng bằng cách miễn giảm lãi vay. Đặc biệt, tín dụng bán lẻ, đặc biệt là các khoản vay mua nhà dài hạn, cũng đã giảm liên tục.

Phân hoá biên lãi ròng trong cuối năm

Nhìn về cuối năm 2024, các chuyên gia từ Agriseco dự đoán rằng, lãi suất cho vay mới của các ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục giảm nhưng với tốc độ chậm dần. Tính đến ngày 30/6/2024, lãi suất cho vay đã giảm bình quân 0,62% so với cuối năm 2023, trong khi lãi suất tiền gửi vẫn giữ ổn định, theo dữ liệu từ NHNN. Mới đây nhất, NHNN đã cập nhật, lãi suất cho vay những khoản mới trung bình hiện nay là 6,23%, giảm 0,86% so với cuối năm ngoái.

Tuy nhiên, từ đầu tháng 5, lãi suất tiền gửi đã bắt đầu có dấu hiệu tăng nhẹ, phổ biến từ 0,5% - 1%. Trong tháng 6, hơn 20 ngân hàng đã tăng lãi suất huy động, và xu hướng này tiếp tục kéo dài đến tháng 7. Điều này có thể dẫn đến việc thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động, tạo áp lực lên NIM của các ngân hàng trong quý III và IV/2024.

Phân hóa giữa lãi suất huy động và cho vay gây áp lực lên biên lãi ròng trong giai đoạn cuối năm
Nguồn: NHNN, NHTM, VCBS.

Theo các chuyên gia từ VCBS, chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay trong thời gian tới sẽ chịu áp lực thu hẹp do biến động của xu hướng lãi suất.

Cụ thể, lãi suất huy động khó có thể giảm thêm do tác động của tỷ giá và lạm phát. Dự kiến, áp lực lạm phát sẽ gia tăng từ quý III/2024, khi giá lương thực, thực phẩm, điện và nhà ở tăng, phản ánh sự phục hồi của thị trường bất động sản và việc điều chỉnh lương cơ sở. Thêm vào đó, tỷ giá USD/VND chênh lệch khiến lãi suất khó giảm sâu hơn.

"Các ngân hàng tư nhân sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lãi suất để thu hút khách hàng chất lượng cao, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ; xu hướng gia tăng cho vay doanh nghiệp, nhóm có lãi suất thấp hơn so với cho vay cá nhân tại một số ngân hàng" - Các chuyên gia VCBS nhận định.

Về lãi suất cho vay, các chuyên gia đánh giá, lãi suất cho các khoản vay mới sẽ duy trì ổn định. Đối với các ngân hàng quốc doanh, sẽ có áp lực giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp theo định hướng của Chính phủ và NHNN.

Các chuyên gia cũng cho biết, tác động của việc tăng lãi suất đến NIM của hệ thống ngân hàng sẽ có độ trễ từ 3 đến 6 tháng, và áp lực này có thể sẽ rõ ràng hơn từ quý IV/2024. Dự kiến, NIM sẽ giữ ổn định trong ba quý đầu năm 2024, nhưng có thể chịu áp lực thu hẹp vào quý IV/2024 trong trường hợp lãi suất huy động tăng thêm từ 50 - 100 điểm cơ bản.

Ngoài ra, cũng sẽ có sự phân hóa giữa các ngân hàng, trong đó, những ngân hàng có khả năng mở rộng NIM gồm: Các ngân hàng có lợi thế trong huy động vốn (tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao, đa dạng hóa nguồn vốn qua phát hành giấy tờ có giá, vay vốn nước ngoài...); các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt, với nhóm khách hàng có khả năng trả nợ nhanh chóng phục hồi; và các ngân hàng có thể đẩy mạnh cho vay bán lẻ./.

Theo ông Vũ Đức Nam - Giám đốc Đầu tư tại Art Investor cho biết, sẽ có áp lực từ việc tăng lãi suất đối với NIM của các ngân hàng trong nửa cuối năm, khi các ngân hàng phải đẩy mạnh huy động từ cá nhân và doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng. Tuy nhiên gần như sẽ không có diễn biến lãi suất tiền gửi tăng mạnh và đột ngột. NHNN sẽ tiếp tục linh hoạt điều chỉnh lãi suất điều hành.

Các ngân hàng thương mại sẽ chủ động cân đối chênh lệch lãi suất đầu ra và đầu vào để đảm bảo lợi ích và phù hợp với từng nhóm khách hàng. Dự kiến, NIM sẽ tiếp tục phân hóa, tương tự như nửa đầu năm 2024. Các ngân hàng có tập khách hàng đa dạng và duy trì chi phí vốn thấp sẽ có cơ hội giữ NIM ổn định hoặc cải thiện. Ngược lại, những ngân hàng không có lợi thế về chi phí vốn và phải đối mặt với rủi ro nợ xấu có thể gặp khó khăn với NIM giảm.

Diệu Khiết

Đọc thêm

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 144,100
Hà Nội - PNJ 141,100 144,100
Đà Nẵng - PNJ 141,100 144,100
Miền Tây - PNJ 141,100 144,100
Tây Nguyên - PNJ 141,100 144,100
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 144,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 14,410
Miếng SJC Nghệ An 14,110 14,410
Miếng SJC Thái Bình 14,110 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 14,410
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 14,410
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 14,320
Trang sức 99.99 13,730 14,330
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 14,412
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 14,413
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 1,437
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 141,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 107,111
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 97,128
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 87,145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 83,294
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 5,962
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 1,441
Cập nhật: 03/10/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 03/10/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30