Tín dụng sẽ tập trung vào các ngân hàng nào?

Duy Thái
(TBTCO) - Tính tới 26/8, tín dụng hệ thống chỉ tăng 6,63% so với cuối năm 2023, trong đó tăng trưởng tín dụng giữa các ngân hàng thương mại không đồng đều. Theo các chuyên gia, tín dụng có thể tăng trưởng tốt hơn về cuối năm do tính mùa vụ, tuy nhiên cũng chỉ sẽ tập trung vào các ngân hàng có khả năng hy sinh biên lãi ròng hoặc có chất lượng tài sản vững chắc hơn.
aa
Tín dụng sẽ tập trung vào các ngân hàng nào?

Tăng trưởng tín dụng dự kiến vẫn đạt mục tiêu 14% trong năm nay.

Tín dụng còn cách xa mục tiêu

Số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến ngày 26/8/2024, tín dụng toàn hệ thống ngân hàng chỉ tăng 6,63% so với cuối năm 2023, không có nhiều khác biệt với mức tăng 6,1% vào cuối tháng 6. Trong đó, tăng trưởng tín dụng giữa các ngân hàng thương mại cũng không đồng đều. Do vậy, NHNN đã thông báo kể từ ngày 28/8, các tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt từ 80% chỉ tiêu đã thông báo đầu năm 2024 sẽ được chủ động điều chỉnh tăng thêm dư nợ tín dụng dựa trên cơ sở điểm xếp hạng của tổ chức tín dụng.

Theo ước tính của các chuyên gia đến từ SSI Research, mức phần bổ thêm vào khoảng 2% - 2,3% cho các ngân hàng thương mại đã đạt mức tăng trưởng tín dụng khoảng 11% – 12% vào cuối tháng 8.

Đánh giá về con số tăng trưởng tín dụng tới cuối tháng 8, chuyên gia của MBS Research cho rằng, tăng trưởng tín dụng còn cách xa so với mục tiêu 14 - 15% trong năm 2024. “Chúng tôi nhận định rằng, tăng trưởng tín dụng được cải thiện kể từ tháng 4/2024 nhờ sự phục hồi của sản xuất. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng được cải thiện nhanh hơn vào tháng cuối của quý II/2024 so với 5 tháng đầu năm cho thấy sự không chắc chắn trong các tháng tiếp theo” – Chuyên gia của MBS cho hay.

Trong khi đó, theo chuyên gia của BSC Researchm cầu tín dụng nhìn chung có xu hướng phục hồi, tuy nhiên việc giải ngân các kỳ hạn dài phục vụ hoạt động đầu tư mở rộng còn gặp nhiều khó khăn. Mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống 14 - 15% sẽ có thể đạt được trong 2024, với động lực chính tiếp tục đến từ khách hàng doanh nghiệp, tập trung vào các lĩnh vực cho thấy sự phục hồi như xuất nhập khẩu và FDI. Tín dụng bán lẻ còn phục hồi chậm khi tín dụng tiêu dùng bất động sản đến hết quý II/2024 chỉ tăng khoảng 1,15% so với đầu năm.

Khả năng đạt mục tiêu nhưng vẫn sẽ phân hóa

Theo đánh giá của chuyên gia đến từ MBS Research, nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn đang dẫn dắt tăng trưởng tín dụng của cả hệ thống, trong khi tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng quốc doanh vẫn đang chậm vì hoạt động trả trước tăng mạnh nhờ lãi suất thấp. “Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ đạt 14% trong năm 2024 với kịch bản tăng trưởng GDP là 6,5% cho cả năm”- Chuyên gia của MBS dự báo.

Nhiều nhận định đều cho thấy, khả năng tăng trưởng toàn hệ thống có thể sẽ vẫn đạt mục tiêu đề ra nhờ vào yếu tố mùa vụ cuối năm, tuy nhiên, tốc độ tăng tín dụng sẽ có sự phân hóa khá lớn giữa các ngân hàng.

Theo chuyên gia của MBS Research, tín dụng sẽ tập trung vào các ngân hàng có khả năng hy sinh biên lợi nhuận ròng (NIM), hoặc có chất lượng tài sản vững chắc hơn.

Chuyên gia của MBS cũng đưa ra đặc điểm của các ngân hàng sẽ đạt mức tăng trưởng tín dụng cao trong thời gian còn lại của năm nay. Cụ thể, đó là các ngân hàng có thể hy sinh NIM bằng cách giảm lãi suất cho vay; hoặc các ngân hàng có chất lượng tài sản đã được kiểm chứng trong thời kỳ đại dịch Covid-19 sẽ có vị thế tốt hơn. Ngoài ra, tín dụng sẽ ưu tiên các ngân hàng chứng tỏ được khả năng hấp thụ tín dụng trong bối cảnh áp lực trả trước cao trong năm 2023 và 6 tháng 2024 có khả năng duy trì tăng trưởng. “Khả năng phục hồi này đặc biệt có giá trị do nhu cầu yếu đã trải qua từ nửa cuối năm 2023 đến nay” – chuyên gia của MBS nhấn mạnh.

Có thể linh hoạt hơn về chính sách tiền tệ

“ Khi FED giảm lãi suất, áp lực tỷ giá hạ nhiệt, NHNN có thể linh hoạt hơn trong điều hành chính sách tiền tệ. Theo đó, nhà điều hành có nhiều điều kiện hơn để hỗ trợ thanh khoản thị trường thông qua kênh thị trường mở cũng như có thể mua vào dự trữ ngoại hối vào giai đoạn cuối năm nay” – ông Đinh Quang Hinh – Trưởng Bộ phận Vĩ mô và Chiến lược thị trường, VNDIRECT.

Duy Thái

Đọc thêm

"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

"Đại dương xanh" rộng lớn, Bảo hiểm NNX mở lối bằng bảo hiểm vi mô hướng tới 10 triệu khách hàng

(TBTCO) - Trong bối cảnh tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm vẫn dưới 3%, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm/GDP thấp cho thấy "đại dương xanh" của thị trường bảo hiểm còn rất lớn. Chọn khai phá bằng bảo hiểm vi mô, Bảo hiểm Công nghệ Ngôi Nhà Xanh (NNX Insurance) đặt mục tiêu phục vụ 10 triệu khách hàng, đưa bảo hiểm đến gần hơn với người dân và hướng đến doanh thu phí lên tới 6.000 tỷ đồng vào năm 2030.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB sắp triển khai phương án tăng vốn điều lệ, thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức và chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, dự kiến huy động khoảng 8.055 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất các phương án tăng vốn này, vốn điều lệ của ngân hàng dự kiến tăng lên tối đa 100.687 tỷ đồng.
F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

(TBTCO) - F88 chính thức mở nhận đăng ký mua cổ phiếu trong đợt chào bán ra công chúng từ ngày 6/7, với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động gần 1.564 tỷ đồng. Theo đánh giá, đợt phát hành không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực nợ vay, mà còn tạo điều kiện để F88 niêm yết trên HOSE ngay trong năm 2026.
BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

(TBTCO) - BVBank chuẩn bị triển khai phương án tăng vốn điều lệ năm 2026. Theo phương án trước đó, nếu hoàn tất hai đợt phát hành cho cổ đông hiện hữu và ESOP, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ tăng 55% lên 9.912 tỷ đồng. BVBank cũng đang hoàn tất các thủ tục để chuyển niêm yết cổ phiếu từ UPCoM sang HOSE.
Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, ngân hàng sẽ đối mặt với ba rủi ro lớn, khó đáp ứng chuẩn an toàn Basel III. Trong bối cảnh này, lãi suất cần được điều hành ổn định có chọn lọc, hài hòa nhiều mục tiêu, thay vì duy trì "rẻ đại trà”.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,700 15,000
Kim TT/AVPL 14,700 15,000
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,700 15,000
Nguyên Liệu 99.99 13,450 13,650
Nguyên Liệu 99.9 13,400 13,600
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,800 14,300
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,730 14,280
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,500 149,500
Hà Nội - PNJ 146,500 149,500
Đà Nẵng - PNJ 146,500 149,500
Miền Tây - PNJ 146,500 149,500
Tây Nguyên - PNJ 146,500 149,500
Đông Nam Bộ - PNJ 146,500 149,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 15,000
Miếng SJC Nghệ An 14,700 15,000
Miếng SJC Thái Bình 14,700 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,600 14,950
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,600 14,950
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,600 14,950
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,140 14,840
Trang sức 99.99 14,150 14,850
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 15,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 15,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,467 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,442 1,477
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,238 146,238
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,436 110,936
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,096 100,596
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,756 90,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,768 86,268
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,247 61,747
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Cập nhật: 08/07/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17727 18000 18579
CAD 17968 18243 18865
CHF 31946 32327 32972
CNY 0 3829 3922
EUR 29428 29649 30732
GBP 34384 34776 35714
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14643 15233
SGD 19811 20093 20674
THB 705 768 821
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,082 26,082 26,462
USD(1-2-5) 25,039 - -
USD(10-20) 25,039 - -
EUR 29,543 29,567 30,975
JPY 157.88 158.16 167.69
GBP 34,556 34,650 35,842
AUD 17,922 17,987 18,664
CAD 18,154 18,212 18,882
CHF 32,223 32,323 33,266
SGD 19,921 19,983 20,769
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,285 3,295 3,433
KRW 15.88 16.56 18.01
THB 752.09 761.38 814.85
NZD 14,643 14,779 15,212
SEK - 2,681 2,776
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,640 2,733
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,031.01 - 6,807.86
TWD 738.6 - 894.68
SAR - 6,883.11 7,250
KWD - 83,185 88,501
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,517 29,636 30,829
GBP 34,581 34,720 35,750
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,078 32,207 33,142
JPY 158.10 158.73 166.65
AUD 17,924 17,996 18,591
SGD 19,998 20,078 20,667
THB 769 772 809
CAD 18,167 18,240 18,810
NZD 14,740 15,279
KRW 16.48 18.20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26082 26082 26462
AUD 17901 18001 18926
CAD 18145 18245 19256
CHF 32173 32203 33777
CNY 3809.4 3834.4 3969.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29586 29616 31339
GBP 34676 34726 36484
HKD 0 3355 0
JPY 158.8 159.3 169.85
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14754 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19968 20098 20820
THB 0 734 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,123 26,173 26,462
USD20 26,123 26,173 26,462
USD1 26,123 26,173 26,462
AUD 17,955 18,055 19,163
EUR 29,406 29,506 31,169
CAD 18,099 18,199 19,505
SGD 20,054 20,204 20,758
JPY 159.42 160.92 166.46
GBP 34,609 34,759 35,826
XAU 14,748,000 0 15,052,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/07/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80