Quản lý rủi ro, khơi thông nguồn lực từ tài sản mã hóa
Lựa chọn cách tiếp cận phù hợp
Theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia, các quốc gia, Việt Nam cần quản lý dựa trên mức độ rủi ro của từng loại tài sản mã hóa, thay vì chỉ căn cứ vào tính chất số hóa. Những tài sản có mức độ rủi ro cao phải được giám sát chặt chẽ hơn, trong khi các sản phẩm có rủi ro thấp hơn, gắn với giá trị kinh tế thực nên được tạo điều kiện phát triển.
Việt Nam cũng cần xây dựng khuôn khổ pháp lý riêng đối với stablecoin - loại tài sản mã hóa được bảo chứng bằng tiền pháp định hoặc tài sản có giá trị tương đối ổn định. Cùng với đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cần được triển khai để vừa tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, vừa giúp cơ quan quản lý nhận diện, đánh giá tác động trước khi cho phép áp dụng trên diện rộng.
![]() |
| Việt Nam cần sớm hình thành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với nền tảng blockchain và hoạt động token hóa tài sản. Ảnh: SHUTTERSTOCK |
TS. Cấn Văn Lực, cho rằng, quá trình xây dựng thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam hiện đứng trước bốn bài toán lớn. Trước hết là tìm điểm cân bằng giữa kiểm soát rủi ro và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Chính sách cần có mức độ cởi mở phù hợp để thu hút sáng kiến, công nghệ và nguồn lực mới, đồng thời bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính.
Bài toán thứ hai là bảo vệ nhà đầu tư nhưng không tạo ra tâm lý ỷ lại vào Nhà nước. Khi quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư bị xâm phạm, Nhà nước cần có cơ sở pháp lý và công cụ cần thiết để bảo vệ. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải minh bạch, chịu trách nhiệm về hoạt động của mình; nhà đầu tư cũng phải tự chịu rủi ro thị trường và trách nhiệm đối với quyết định đầu tư.
Tăng cường bảo đảm an ninh mạngThượng tá, TS. Nguyễn Thành Chung - Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an, cho biết từ năm 2020 đến đầu năm 2025, thế giới ghi nhận hơn 660 vụ tấn công mạng trong lĩnh vực tài sản mã hóa, gây thiệt hại gần 13 tỷ USD. Riêng từ đầu năm 2026, tổn thất tiếp tục ở mức khoảng 800 triệu USD. Rủi ro chủ yếu xuất phát từ những đặc tính kỹ thuật mới của blockchain, mức đầu tư cho an ninh mạng còn hạn chế, điểm yếu con người và sức hấp dẫn ngày càng lớn của thị trường đối với tội phạm mạng. Các cuộc tấn công thường tập trung vào ví, sàn giao dịch, cầu nối và ứng dụng blockchain, đặt ra yêu cầu tăng cường đánh giá, giám sát và ứng phó sự cố đối với các hệ thống thí điểm. |
Bài toán thứ ba là đưa hoạt động giao dịch tài sản mã hóa về các sàn trong nước nhưng vẫn bảo đảm khả năng cạnh tranh với những nền tảng quốc tế. Việc cấp phép cho các tổ chức cung cấp dịch vụ trong nước là cần thiết, song để giữ chân nhà đầu tư và dòng vốn, các đơn vị này phải có sản phẩm, chi phí, thanh khoản, công nghệ và chất lượng dịch vụ đủ sức cạnh tranh.
Bài toán cuối cùng mang tính dài hạn, đó là Việt Nam có sẵn sàng nhìn nhận thị trường tài sản mã hóa như một nguồn lực mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế số hay không. Thành công của cơ chế thí điểm không chỉ được đo bằng quy mô giao dịch hay nguồn thu ngân sách, mà còn ở khả năng huy động vốn cho sản xuất, thúc đẩy mã hóa tài sản thực, phát triển công nghệ chuỗi khối và hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp tài sản số của Việt Nam.
Dữ liệu tin cậy quyết định chất lượng thị trường
Nếu hành lang pháp lý là điều kiện cần, hạ tầng dữ liệu tin cậy được xem là điều kiện đủ để thị trường tài sản mã hóa phát triển đúng hướng. Ông Phan Đức Trung - Chủ tịch Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam cho biết, trong khoảng 10 tháng qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản ở các cấp độ khác nhau, từ luật, nghị định đến thông tư; đồng thời tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ về định danh và xác thực. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành thị trường tài sản mã hóa có quản lý, với điều kiện hạ tầng dữ liệu, tài sản cơ sở, quy trình định danh và cơ chế phân phối được xây dựng đầy đủ, minh bạch.
TS. Hồ Văn Hương - Phó Trưởng ban Cơ yếu Chính phủ cho rằng, sự phát triển của thị trường tài sản mã hóa không thể chỉ dựa vào việc số hóa tài sản hay đưa giao dịch lên môi trường số, mà còn phụ thuộc vào khả năng xác thực tài sản, bảo vệ giao dịch và nhận diện tin cậy các chủ thể tham gia. Việt Nam cần sớm hình thành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với nền tảng blockchain và hoạt động token hóa tài sản; đồng thời củng cố hạ tầng định danh, xác thực số và công nghệ mật mã. Đây là cơ sở để các hệ thống kết nối, vận hành an toàn, xác lập trách nhiệm của các bên và hỗ trợ hoạt động giám sát.
Các chuyên gia cho rằng khả năng khai thác nguồn lực từ tài sản mã hóa không chỉ phụ thuộc vào tốc độ hoàn thiện chính sách, mà còn được quyết định bởi chất lượng tài sản cơ sở, độ tin cậy của dữ liệu và năng lực giám sát. Khi các điều kiện này được xây dựng đồng bộ, Việt Nam có thể từng bước hình thành thị trường tài sản mã hóa an toàn, minh bạch, qua đó mở rộng các kênh huy động vốn và tạo thêm động lực cho kinh tế số.


