SJ Group ghi nhận lợi nhuận kỷ lục, nhưng dòng tiền kinh doanh âm gần 500 tỷ đồng

Anh Tú
(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1%, mới hoàn thành khoảng 35% kế hoạch năm. Tuy nhiên, dòng tiền kinh doanh âm gần 500 tỷ đồng, trong khi khoản người mua trả tiền trước giảm 97,4%, phần lớn doanh thu được ghi nhận từ các khoản ứng trước năm 2025, qua đó, gia tăng áp lực duy trì nguồn thu và dòng tiền trong các quý tiếp theo.
aa

Công ty cổ phần SJ Group (SJ Group - mã Ck: SJS) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Quý II/2026, Công ty Cổ phần SJ Group ghi nhận doanh thu thuần đạt 443,4 tỷ đồng, tăng 128,7% so với cùng kỳ và là mức cao nhất theo quý từ trước đến nay. Trong khi đó, giá vốn hàng bán giảm 7,5% xuống gần 100 tỷ đồng, giúp lợi nhuận gộp tăng 142,1%, đạt 344 tỷ đồng. Sau khi khấu trừ các chi phí, lợi nhuận trước thuế đạt 306,6 tỷ đồng, tăng 135,8% so với quý II/2025.

SJ Group ghi nhận lợi nhuận kỷ lục, nhưng dòng tiền kinh doanh âm gần 500 tỷ đồng
Thông tin từ SJ Group cho thấy, tại dự án Nam An Khánh, số dư người mua trả tiền trước giảm từ 678,7 tỷ đồng xuống còn 13,4 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần đạt 760,2 tỷ đồng, tăng 121% so với cùng kỳ; lợi nhuận gộp đạt 573 tỷ đồng, tăng 133,3. Lợi nhuận trước thuế SJ Group đạt 526,3 tỷ đồng, tăng 143,1%. Với kết quả này, SJ Group đã hoàn thành khoảng 35% kế hoạch lợi nhuận sau thuế năm 2026 được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Đáng chú ý, doanh thu 6 tháng đầu năm chủ yếu được ghi nhận từ các hợp đồng đã ký và khoản tiền khách hàng thanh toán trước theo tiến độ trong năm 2025, tập trung tại dự án Khu đô thị mới Nam An Khánh.

Điều này thể hiện qua khoản mục người mua trả tiền trước giảm mạnh từ 681,1 tỷ đồng cuối năm 2025 xuống còn 17,9 tỷ đồng tại ngày 30/6/2026, tương ứng giảm gần 97,4%. Riêng tại dự án Nam An Khánh, số dư người mua trả tiền trước giảm từ 678,7 tỷ đồng xuống còn 13,4 tỷ đồng, cho thấy nguồn tiền khách hàng ứng trước gần như đã được ghi nhận hết vào doanh thu trong kỳ.

Trong khi đó, SJ Group chưa ghi nhận đáng kể dòng tiền từ các hợp đồng bán hàng mới trong năm 2026, điều này đặt ra áp lực duy trì nguồn thu và dòng tiền trong các quý tiếp theo.

Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm nặng gần 500 tỷ đồng, dù lợi nhuận trước thuế đạt hơn 526 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy lợi nhuận kế toán chưa chuyển hóa thành dòng tiền thực, lượng vốn vẫn bị giam trong hàng tồn kho và các khoản phải thu, trong khi nguồn tiền hỗ trợ từ khách hàng và nhà cung cấp suy giảm.

Tại ngày 30/6/2026, hàng tồn kho của SJ Group đạt 4.384,2 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cuối năm 2025. Trong đó, dự án Khu đô thị mới Nam An Khánh ghi nhận giá trị tồn kho 4.321,8 tỷ đồng, tăng khoảng 134,5 tỷ đồng so với đầu năm và chiếm tới 98,6% tổng hàng tồn kho. Điều này cho thấy doanh nghiệp tiếp tục tập trung nguồn lực vào dự án trọng điểm, đồng thời lượng vốn đầu tư vẫn chủ yếu nằm tại Nam An Khánh.

Bên cạnh lượng vốn lớn tập trung tại hàng tồn kho, SJ Group tiếp tục phân bổ nguồn lực cho các dự án đang trong giai đoạn đầu tư. Theo đó, chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang dài hạn đạt 2.625,8 tỷ đồng, tăng gần 185 tỷ đồng so với cuối năm 2025, chủ yếu tại các dự án Khu đô thị mới Hòa Hải - Đà Nẵng, Văn La - Hà Đông. Ngoài ra, SJ Group tiếp tục phân bổ vốn vào các dự án Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì, Tiến Xuân, Khu đô thị mới Nam An Khánh mở rộng và Khu đô thị Thịnh Lang - Hòa Bình.

Để triển khai các dự án, tại ngày 30/6/2026, tổng dư nợ vay của SJ Group đạt gần 1.298 tỷ đồng, tăng 20,9% so với cuối năm 2025. Trong đó, vay dài hạn đạt 962 tỷ đồng, tăng 32,1%, còn vay ngắn hạn duy trì ở mức 335,9 tỷ đồng.

Trước đó, đầu năm 2026, doanh nghiệp đã phê duyệt phương án vay vốn tại VietABank - Chi nhánh Hà Nội để đầu tư dự án Khu nhà ở Văn La. Đáng chú ý, trước đây SJS từng có tổng dư nợ tại VietABank lên tới khoảng 1.560 tỷ đồng, cao hơn ngưỡng 15% vốn tự có của ngân hàng theo giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng.

Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông thường niên, nhiều cổ đông đã chất vấn ban lãnh đạo SJ Group khi kết quả thực hiện kế hoạch năm 2025 chỉ đạt từ 19 - 62% các chỉ tiêu đề ra, đồng thời bày tỏ lo ngại về khả năng hoàn thành kế hoạch năm 2026.

Phản hồi cổ đông, ban lãnh đạo cho biết trong năm 2026, công ty sẽ tập trung đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại hai dự án trọng điểm Nam An Khánh và Văn La, đồng thời tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch, phát triển sản phẩm tại dự án Tiến Xuân.

Đối với dự án Nam An Khánh - một trong những dự án nằm trong danh sách các dự án chậm triển khai được UBND TP. Hà Nội rà soát, công ty cho biết đã và đang khắc phục các tồn tại theo các kết luận thanh tra trước đây, đồng thời đẩy nhanh tiến độ thực hiện và điều chỉnh quy hoạch tổng thể theo chấp thuận của UBND thành phố.

Với dự án Tiến Xuân, doanh nghiệp đang tiếp tục giải trình phương án quy hoạch với cơ quan chức năng. Bên cạnh đó, SJ Group cũng cho biết có kế hoạch tăng vốn điều lệ nhằm tạo nguồn lực triển khai các dự án lớn như Văn La, Nam An Khánh và Tiến Xuân./.

Tiền thân là Công ty Đầu tư Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Sông Đà (Sudico), SJ Group được thành lập năm 2001 và hoạt động trong lĩnh vực phát triển bất động sản. Doanh nghiệp là chủ đầu tư nhiều dự án lớn như: Khu đô thị mới Nam An Khánh, Nam An Khánh mở rộng, Khu nhà ở Văn La, Khu đô thị Tiến Xuân, Khu đô thị Hòa Hải (Đà Nẵng) và Khu du lịch sinh thái Sông Đà - Ngọc Vừng…
Anh Tú

Đọc thêm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,390 ▲100K 13,990
Trang sức 99.99 13,400 ▲100K 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1238K 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1238K 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cập nhật: 03/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18713
CAD 18179 18455 19072
CHF 31823 32204 32861
CNY 0 3850 3943
EUR 29644 29866 30949
GBP 34563 34955 35893
HKD 0 3220 3422
JPY 160 165 171
KRW 0 17 19
NZD 0 15094 15685
SGD 19947 20229 20808
THB 703 766 820
USD (1,2) 26011 0 0
USD (5,10,20) 26052 0 0
USD (50,100) 26081 26090 26460
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,707 29,731 31,134
JPY 163.16 163.45 173.29
GBP 34,747 34,841 36,046
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,375 18,434 19,112
CHF 32,090 32,190 33,129
SGD 20,074 20,136 20,933
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.93 17.66 19.21
THB 752.08 761.37 814.6
NZD 15,112 15,252 15,707
SEK - 2,712 2,807
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.73 - 6,770.89
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,881.18 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26075 26075 26475
AUD 18060 18160 19085
CAD 18366 18466 19480
CHF 32113 32143 33721
CNY 3830.5 3855.5 3990.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29836 29866 31589
GBP 34857 34907 36660
HKD 0 3355 0
JPY 163.92 164.42 174.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15220 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20108 20238 20965
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80