Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn vay: Tạo nguồn thu, tăng khả năng trả nợ

Hồng Sâm (Thực hiện)
(TBTCVN) - “Nếu vốn vay được quản lý và sử dụng hiệu quả sẽ góp phần thay đổi diện mạo của đất nước, làm thay đổi căn bản kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế, từ đó tạo nguồn thu,
aa

Tỷ lệ nợ công/GDP hiện vẫn trong giới hạn quy định

Tỷ lệ nợ công/GDP hiện vẫn trong giới hạn quy định

tăng khả năng trả nợ cũng như tạo niềm tin và sự tín nhiệm đối với các chủ thể cung ứng vốn trên thị trường” - Bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Chính sách Tài chính công, Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính (Bộ Tài chính) chia sẻ với phóng viên TBTCVN về vấn đề an toàn nợ công.

* PV: Thưa bà, hiện có nhiều lo ngại về chỉ số nợ công của Việt Nam đã chạm ngưỡng an toàn. Là một chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, bà nghĩ sao về điều này?

- Bà Lê Thị Mai Liên: Theo báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa XIII thì đến thời điểm cuối năm 2015, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam khoảng 62,2%, nợ Chính phủ/GDP là 50,3% và nợ nước ngoài của quốc gia/GDP là 43,1%, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ ở mức 16,0% tổng thu NSNN.

Như vậy đối chiếu với các mục tiêu về quản lý nợ công và giới hạn nợ được Quốc hội thông qua thì nợ chính phủ vượt giới hạn quy định, còn dư nợ công vẫn trong giới hạn Quốc hội quy định là không quá 65% GDP. Sở dĩ dư nợ chính phủ vượt giới hạn quy định 0,3% GDP là do bổ sung 30 nghìn tỷ đồng kế hoạch giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài và do quy mô GDP thực tế năm 2015 giảm lớn so với số dự báo và báo cáo Quốc hội thời điểm tháng 10/2015 là 291,1 nghìn tỷ đồng.

Tỷ lệ nợ công/GDP hiện vẫn trong giới hạn quy định nhưng cũng gần sát ngưỡng giới hạn. Tôi cho rằng quy định giới hạn về tỷ lệ nợ công/GDP là chỉ tiêu quan trọng và cần thiết trong quản lý và giám sát nợ công nhưng giới hạn này không phản ánh được hết những đòi hỏi về an toàn nợ công. Thực tế cho thấy nhiều nước trên thế giới có tỷ lệ nợ công/GDP cao nhưng vẫn chưa rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và đến nay vẫn được đánh giá an toàn, điển hình như Nhật Bản 229,2% (2015), Hoa Kỳ 93,6% (2015), Anh 88,6% (2015), Singapore 92,7% (2015), Malaysia 66,4% (2015),... trong khi một số nước khác như Argentina, Uruguay, Costa Rica, Brazil, Chile,... nợ công/GDP thấp hơn nhiều nhưng lại vỡ nợ.

Do vậy cơ sở đánh giá nợ công an toàn không phản ánh toàn diện qua tỷ lệ nợ công/GDP mà còn thể hiện qua nhiều yếu tố khác như cơ cấu và danh mục nợ công, thời hạn vay nợ, chi phí đi vay, hệ số sử dụng vốn vay, cán cân thanh toán quốc tế và dự trữ ngoại hối, tổng tài sản,... Trong đó vấn đề cốt lõi nhất trong an toàn nợ công cần quan tâm đó là hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay...

Bà Lê Thị Mai Liên
Bà Lê Thị Mai Liên

* PV: Thời gian qua, nhiều địa phương vì chạy theo nhu cầu đầu tư đã khiến nợ chính quyền địa phương trở nên căng thẳng, bà nhận định thế nào về thực trạng này?

- Bà Lê Thị Mai Liên: Đối với nợ chính quyền địa phương, mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nợ công (1,6%) nhưng việc cho phép chính quyền địa phương vay nợ đã góp phần bù đắp cho sự thiếu hụt ngân sách địa phương, tạo nguồn lực cho địa phương đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, qua đó thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy nhiều bất cập. Chẳng hạn nhiều địa phương để sớm đạt các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới đã rất hăng hái trong công tác vận động kêu gọi, huy động nguồn lực để có xây dựng các công trình.

Kết quả là ở nhiều địa phương hoàn thành đúng tiến độ và đạt các tiêu chí về nông thôn mới nhưng lại có số nợ đọng trong xây dựng cơ bản không nhỏ. Do vậy, bên cạnh những điều chỉnh trong quy định về cho phép chính quyền địa phương được bội chi và vay nợ trên cơ sở năng lực thu được đề cập tại Luật NSNN sửa đổi năm 2015 có hiệu lực từ 2017 thì trong thời gian tới cũng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế về vay nợ chính quyền địa phương, đặc biệt là về quan hệ nợ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, cơ chế xử lý khi chính quyền địa phương không trả được nợ.

Ngoài ra, các địa phương cũng cần xây dựng các kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm trên cơ sở kế hoạch tài chính trung hạn của địa phương để đảm bảo tính khả thi và hiệu lực của các kế hoạch đầu tư công địa phương.

* PV: Thưa bà, đối với các doanh nghiệp thì nhu cầu về vốn luôn rất lớn, riêng với doanh nghiệp nhà nước, nếu Chính phủ tiếp tục bảo lãnh cho doanh nghiệp thì sẽ tiềm ẩn nợ công quốc gia. Vậy theo bà, trong trường hợp này, Chính phủ nên ứng xử như thế nào?

- Bà Lê Thị Mai Liên: Hiện nay, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm khoảng 19% tổng dư nợ công. Chính sách bảo lãnh của Chính phủ thời gian qua đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong tiếp cận các nguồn vốn lớn, dài hạn, lãi suất thấp hơn cho đầu tư phát triển, bảo lãnh Chính phủ được tập trung chủ yếu cho các chương trình dự án cấp bách, quan trọng thuộc lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư.

Bên cạnh những mặt tích cực của việc cấp bảo lãnh Chính phủ cũng cho thấy những hạn chế trong quy định và quản lý cấp bảo lãnh Chính phủ như chưa tách rõ các khâu cấp và quản lý bảo lãnh; chưa thể hiện được các đặc điểm khác nhau trong cấp bảo lãnh đối với các loại hình vay vốn khác nhau (vay theo thỏa thuận, phát hành trái phiếu) các địa bàn khác nhau (trong nước, quốc tế),…

Hiện nay, Bộ Tài chính đang sửa Nghị định 15/2011/NĐ-CP ngày 16/2/2011 về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ theo hướng thắt chặt điều kiện cấp bảo lãnh vừa là để giảm rủi ro đối với các khoản nợ dự phòng của Chính phủ, vừa thúc đẩy doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh để tăng mức tín nhiệm, chủ động tìm nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là trong bối cảnh tái cấu trúc DNNN và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

* PV: Xin cảm ơn bà!

Hồng Sâm (Thực hiện)

Hồng Sâm (Thực hiện)

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80