Quỹ hưu trí bổ sung trước cơ hội trở thành nguồn vốn dài hạn của nền kinh tế

NGUYỄN THU BÌNH
(TBTCO) - Quy mô còn khiêm tốn nhưng dư địa phát triển của thị trường quỹ hưu trí bổ sung vẫn rất lớn. Những thay đổi về chính sách được kỳ vọng sẽ tạo động lực hình thành nguồn vốn dài hạn quan trọng cho nền kinh tế trong những năm tới.
aa

Bước ngoặt từ khung pháp lý mới

Dù đã được triển khai gần một thập kỷ, thị trường quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện tại Việt Nam vẫn đang ở quy mô rất nhỏ so với tiềm năng phát triển. Tính đến cuối năm 2025, tổng tài sản của các quỹ hưu trí bổ sung đạt khoảng 2.206 tỷ đồng, tương đương chưa đến 88 triệu USD và chiếm dưới 0,01% GDP. Mặc dù quy mô tài sản đã tăng hơn 50% so với cuối năm 2024, xuất phát điểm thấp khiến thị trường vẫn còn rất khiêm tốn nếu đặt cạnh lực lượng lao động hơn 50 triệu người của Việt Nam.

Trong khi đó, trên thế giới, tổng tài sản hưu trí tại 22 thị trường lớn đã đạt mức kỷ lục 68,3 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2025, tăng 9,6% so với năm trước và tương đương khoảng 68% GDP của các nền kinh tế này. Tại nhiều quốc gia, quỹ hưu trí không chỉ đóng vai trò bảo đảm thu nhập cho người nghỉ hưu mà còn là nguồn vốn dài hạn quan trọng của thị trường tài chính. Hoa Kỳ dẫn đầu với khoảng 44,9 nghìn tỷ USD tài sản hưu trí, tiếp theo là Canada, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Quỹ hưu trí bổ sung trước cơ hội trở thành nguồn vốn dài hạn của nền kinh tế
Khơi thông thị trường quỹ hưu trí bổ sung để tạo lực đỡ cho thị trường vốn. Ảnh minh hoạ.

Khoảng cách rất lớn giữa Việt Nam và các thị trường phát triển cho thấy nhu cầu tích lũy cho tuổi già của người lao động không phải là vấn đề cốt lõi. Điểm nghẽn nằm ở chỗ sản phẩm hiện nay chưa tạo được sức hấp dẫn đủ lớn so với các kênh đầu tư quen thuộc như tiền gửi tiết kiệm, vàng hay bất động sản.

Một trong những nguyên nhân quan trọng xuất phát từ khuôn khổ pháp lý trước đây. Theo Nghị định 88/2016, danh mục đầu tư của quỹ hưu trí chủ yếu tập trung vào trái phiếu Chính phủ và gần như không được đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu niêm yết. Cách tiếp cận này giúp kiểm soát rủi ro nhưng cũng khiến lợi suất thực của quỹ chỉ dao động khoảng 3 - 4% mỗi năm sau khi trừ lạm phát, chưa đủ hấp dẫn để người lao động chấp nhận khóa dòng tiền trong thời gian dài.

Nghị định 85/2026/NĐ-CP, cũng đặt ra một số giới hạn nhất định khi chỉ cho phép người lao động tham gia thông qua người sử dụng lao động và phải thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Điều này đồng nghĩa với việc nhóm lao động tự do và khu vực kinh tế phi chính thức hiện vẫn chưa có cơ hội tiếp cận sản phẩm hưu trí bổ sung.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy phần lớn các quỹ hưu trí lớn trên thế giới đều áp dụng chiến lược phân bổ tài sản đa dạng hơn, với tỷ trọng cổ phiếu thường dao động từ 30% - 60%. Nhờ đó, các quỹ có khả năng tạo ra lợi suất thực cao hơn đáng kể trong dài hạn. Chênh lệch chỉ vài điểm phần trăm mỗi năm có thể tạo ra khác biệt rất lớn về giá trị tài sản sau 20 - 30 năm tích lũy.

Bên cạnh hiệu quả đầu tư, chi phí quản lý cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người tham gia. Ngay cả khi quỹ đạt mức sinh lời tốt, phí quản lý ở ngưỡng 1,5% giá trị tài sản có thể làm giảm đáng kể lợi nhuận thực tích lũy trong dài hạn. Trong khi đó, tại các hệ thống hưu trí phát triển như Thụy Điển, Malaysia hay Hoa Kỳ, mức phí phổ biến thường chỉ dao động khoảng 0,3 - 0,5% giá trị tài sản quản lý.

Trong bối cảnh đó, Nghị định 85/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/5/2026, được xem là bước cải cách quan trọng đầu tiên của thị trường sau gần 10 năm vận hành. Theo quy định mới, tỷ lệ đầu tư tối thiểu vào trái phiếu chính phủ được giảm từ 50% xuống còn 40%; quỹ được phép đầu tư tối đa 30% tài sản vào cổ phiếu và trái phiếu niêm yết. Đồng thời, cơ chế ưu đãi thuế cũng được hoàn thiện theo mô hình EET (miễn thuế khi đóng góp, miễn thuế đối với lợi nhuận đầu tư và đánh thuế khi nhận chi trả), phù hợp với thông lệ quốc tế.

Những thay đổi này giúp mở rộng không gian phân bổ tài sản, tạo điều kiện cho các công ty quản lý quỹ tối ưu hóa danh mục đầu tư, nâng cao khả năng sinh lời trong dài hạn nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu an toàn vốn.

Nâng sức hấp dẫn sản phẩm hưu trí

Thực tế cho thấy, khung pháp lý thuận lợi chỉ là điều kiện cần. Sự phát triển của thị trường phụ thuộc vào khả năng hình thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó người lao động, doanh nghiệp, công ty quản lý quỹ và thị trường vốn cùng tham gia vào một vòng tuần hoàn tích cực. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các thị trường hưu trí thành công đều dựa trên sự kết hợp giữa ưu đãi thuế đủ hấp dẫn, sản phẩm đầu tư có khả năng tạo lợi suất cạnh tranh, chi phí quản lý minh bạch, mạng lưới phân phối rộng và niềm tin của người tham gia đối với cơ chế quản trị tài sản.

Đối với Việt Nam, điểm nghẽn hiện nay không nằm ở nhu cầu tích lũy dài hạn mà nằm ở khả năng tạo ra giá trị khác biệt cho sản phẩm. Mạng lưới phân phối vẫn tập trung chủ yếu tại các doanh nghiệp lớn, trong khi lực lượng lao động thuộc khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như khu vực phi chính thức, nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất trên thị trường lao động vẫn chưa được tiếp cận hiệu quả.

Từ góc độ quản lý rủi ro, yếu tố quan trọng nhất là xây dựng cơ chế minh bạch để người tham gia có thể đánh giá rõ mối quan hệ giữa rủi ro, lợi suất và chi phí. Một quỹ hưu trí được quản trị chuyên nghiệp, có ngân hàng giám sát, tài sản được tách biệt, danh mục đầu tư đa dạng và chi phí hợp lý sẽ tạo dựng niềm tin bền vững hơn bất kỳ chiến dịch truyền thông nào.

Ý nghĩa của quỹ hưu trí bổ sung cũng không chỉ dừng lại ở câu chuyện an sinh xã hội. Tại Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Hàn Quốc, các quỹ hưu trí đã trở thành nhóm nhà đầu tư tổ chức lớn nhất trên thị trường vốn, cung cấp nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp, các dự án hạ tầng và chương trình phát triển quốc gia. Chính nguồn vốn dài hạn này góp phần giảm phụ thuộc vào dòng tiền ngắn hạn, hạn chế biến động thị trường và nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp.

Điều này càng có ý nghĩa đối với Việt Nam khi nhu cầu vốn cho hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển khu vực kinh tế tư nhân đang gia tăng mạnh. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, nhu cầu vốn hạ tầng của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2031 vượt 334 tỷ USD. Trong khi đó, cấu trúc huy động vốn của nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng với quy mô bình quân khoảng 53,5 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2019 - 2023, cao hơn nhiều so với khoảng 2,9 tỷ USD huy động từ thị trường chứng khoán.

Song song với đó, quá trình già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng. Với khoảng 16,1 triệu người cao tuổi hiện nay, Việt Nam dự kiến trở thành xã hội già vào năm 2038, thời gian chuyển đổi chỉ dưới 20 năm và nhanh hơn phần lớn các quốc gia châu Á. Trong bối cảnh đó, việc hình thành một trụ cột hưu trí bổ sung đủ lớn trong 10 - 15 năm tới không chỉ giúp tăng cường an sinh xã hội mà còn góp phần xây dựng lực lượng nhà đầu tư tổ chức dài hạn cho nền kinh tế, qua đó hỗ trợ giải quyết nhu cầu vốn trung và dài hạn trong giai đoạn phát triển mới.

NGUYỄN THU BÌNH

Đọc thêm

Thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Chu Lai

Thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Chu Lai

(TBTCO) - Hồ sơ quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Chu Lai đề xuất xây thêm đường cất hạ cánh dài 4.000 m, nhà ga hành khách T2 công suất 5 triệu khách/năm trước năm 2030, hướng tới phục vụ 30 triệu khách/năm vào năm 2050. Hội đồng thẩm định sẽ xem xét hồ sơ quy hoạch Cảng hàng không Chu Lai, với đề xuất nâng công suất lên 30 triệu hành khách/năm vào năm 2050.
Đại biểu lo tăng tiền đặt cọc chưa chắc ngăn được thao túng giá đất

Đại biểu lo tăng tiền đặt cọc chưa chắc ngăn được thao túng giá đất

(TBTCO) - Thảo luận về dự thảo Luật Đấu giá tài sản, một trong những vấn đề các đại biểu Quốc hội quan tâm là giải pháp để ngăn thông đồng, thao túng giá, trả giá cao rồi bỏ cọc. Tuy nhiên, việc nâng tiền đặt trước cũng cần được cân nhắc để không làm giảm tính cạnh tranh của cuộc đấu giá.
Việt Nam ưu tiên thu hút các nhà đầu tư sở hữu công nghệ nền tảng

Việt Nam ưu tiên thu hút các nhà đầu tư sở hữu công nghệ nền tảng

(TBTCO) - Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận cho biết, trong bối cảnh yêu cầu nâng cao tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh quốc gia, Việt Nam ưu tiên thu hút các nhà đầu tư sở hữu công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, có năng lực quản trị hiện đại, cam kết chuyển giao công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Kim ngạch xuất nhập khẩu lập kỷ lục mới sau 10 tháng

Kim ngạch xuất nhập khẩu lập kỷ lục mới sau 10 tháng

(TBTCO) - Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa công bố, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong 10 tháng năm 2026 đạt 1.010,55 tỷ USD, tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD.
Việt Nam thu hút 54,85 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài trong 10 tháng

Việt Nam thu hút 54,85 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài trong 10 tháng

(TBTCO) - Trong 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam ước đạt 24,08 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức vốn FDI thực hiện cao nhất trong cùng kỳ 10 tháng của 5 năm qua. Trong khi đó, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 54,85 tỷ USD, tăng 74% so với cùng kỳ năm 2025.
Hà Nội tăng tốc giải ngân, "thúc" tiến độ các công trình hạ tầng trọng điểm

Hà Nội tăng tốc giải ngân, "thúc" tiến độ các công trình hạ tầng trọng điểm

Trong tháng 10, công tác giải ngân vốn đầu tư công trên địa bàn Thành phố tiếp tục duy trì đà tăng tích cực, phản ánh những chuyển biến rõ nét trong công tác giải phóng mặt bằng, cải cách thủ tục đầu tư và tăng cường điều hành, giám sát tiến độ dự án. Nhiều công trình hạ tầng trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ thi công, góp phần nâng cao khả năng hấp thụ vốn và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế Thủ đô trong những tháng cuối năm.
Infographics: Những con số kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội 10 tháng năm 2026

Infographics: Những con số kinh tế trên địa bàn TP. Hà Nội 10 tháng năm 2026

(TBTCO) - Theo Thống kê TP. Hà Nội, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố đạt 652,2 nghìn tỷ đồng; tổng chi ngân sách địa phương 195,7 nghìn tỷ đồng; chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,92%... là những con số kinh tế nổi bật trên địa bàn TP. Hà Nội 10 tháng năm 2026.
TP. Hồ Chí Minh: Sức hút FDI không chỉ nằm ở ưu đãi đầu tư

TP. Hồ Chí Minh: Sức hút FDI không chỉ nằm ở ưu đãi đầu tư

(TBTCO) - Khi các tập đoàn quốc tế ngày càng quan tâm đến công nghệ cao, sản xuất tiên tiến và hạ tầng số, lợi thế thu hút FDI của TP. Hồ Chí Minh không thể chỉ dựa vào ưu đãi hay chi phí đầu tư. Chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực và tính ổn định của môi trường chính sách mới là những yếu tố quyết định sức hút của thành phố trong dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều