Tăng “sức đề kháng” an ninh năng lượng trước biến động Trung Đông
PV: Xung đột địa chính trị tại Trung Đông đang tác động ra sao đến an ninh năng lượng của Việt Nam, đặc biệt về nguồn cung và giá, thưa ông?
![]() |
| TS. Nguyễn Sơn |
TS. Nguyễn Sơn: Cuộc xung đột này đang tác động trực tiếp lên an ninh năng lượng Việt Nam qua hai kênh chính: gián đoạn nguồn dầu thô cho ngành công nghiệp lọc hóa dầu và làn sóng lạm phát chi phí đẩy đã và đang lan rộng ra nhiều chuỗi sản xuất, vì lọc hóa dầu là đầu vào cho rất nhiều ngành công nghiệp.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã cho thấy phản ứng tương đối nhanh. Ví dụ, ban hành Nghị quyết số 36/NQ-CP, trong đó giảm thuế MFN (ưu đãi) nhập khẩu với một số mặt hàng xăng dầu; Thủ tướng trực tiếp điện đàm với các nguyên thủ quốc gia như UAE, Qatar, Kuwait, cùng với đó, mua bổ sung 4 triệu thùng dầu từ các nguồn ngoài khu vực Trung Đông. Nhờ linh hoạt sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, mức tăng xăng dầu trong nước vẫn đang được kìm ở mức thấp hơn so với bình diện thị trường thế giới.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là, lượng này chỉ tương đương khoảng 1 tuần tiêu thụ, cho thấy đây là biện pháp tình thế hơn là giải pháp căn cơ. Theo đánh giá của một số tổ chức phân tích, nếu giá dầu duy trì ở mức cao (trên 100 USD/thùng) kéo dài, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng, bao gồm cả ảnh hưởng lên thị trường tài chính, như tỷ giá USD/VND.
PV: Theo quan sát của ông, những điểm hạn chế của Việt Nam trong đảm bảo an ninh năng lượng hiện nay là gì?
TS. Nguyễn Sơn: Điểm yếu cốt lõi và rõ nhất là sự phụ thuộc đáng kể của ngành lọc hóa dầu vào các nguồn có khả năng bị gián đoạn cao, điển hình ở đây là khu vực Trung Đông. Ví dụ, Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn được thiết kế chuyên biệt cho loại dầu từ Kuwait, trong khi Kuwait Petroleum International đồng thời nắm giữ lượng lớn cổ phần liên doanh, một cấu trúc sở hữu mà có thể tạo ra xung đột lợi ích, khi nhà đầu tư không có động lực trong chủ động đa dạng hóa nguyên liệu.
Mặc dù lô dầu không phải từ Kuwait đầu tiên (Das Blend từ Abu Dhabi) đã được xử lý thành công vào tháng 1/2026 và Nghi Sơn tiếp tục mua thêm từ Mỹ kể từ tháng 2/2026, việc chuyển đổi nguồn trong khủng hoảng không thể thực hiện ngay lập tức và đòi hỏi quá trình đàm phán thương mại phức tạp trong bối cảnh cạnh tranh nguồn cung toàn cầu đang rất khốc liệt.
Mở rộng dự trữ dầu thô chiến lượcTheo TS. Nguyễn Sơn, mức dự trữ dầu thô chiến lược khoảng 20 - 25 ngày của Việt Nam là “vùng nguy hiểm” trong bối cảnh xung đột hiện tại. Kế hoạch mở rộng mức dự trữ dầu thô chiến lược lên 75 - 80 ngày đến năm 2030 của Việt Nam cần được đẩy nhanh thành ưu tiên cấp bách. |
Đây có thể được coi là hệ quả trực tiếp của triết lý đầu tư ưu tiên hiệu quả chi phí hơn khả năng chống chịu và phục hồi, khi chúng ta nhìn sang các nhà máy lọc dầu tại Mỹ (chỉ số Nelson Complexity trung bình ~11) và Singapore, được thiết kế để xử lý linh hoạt hầu hết mọi loại dầu thô, từ dầu Mỹ, Tây Phi, đến Trung Đông và Nga. Nếu không đẩy nhanh mở rộng công suất và khả năng lọc dầu đa dạng hóa, khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước sẽ yếu hơn và dễ bị tác động mạnh từ các yếu tố bên ngoài.
Thêm vào đó, có thể thấy, mức dự trữ chiến lược của Việt Nam còn hạn chế. Trong khi đó, Nhật Bản duy trì 254 ngày, Hàn Quốc 208 ngày, Trung Quốc hơn 120 ngày; tiêu chuẩn tối thiểu của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) đối với các thành viên là 90 ngày. Điều này hạn chế Việt Nam tham gia trực tiếp vào các đợt giải phóng kho dự trữ của các thành viên IEA, mặc dù có thể được hưởng lợi từ việc nguồn cung được nâng đỡ.
Vấn đề không chỉ là thiếu nguồn lực nhất thời, mà mang tính cơ cấu: ngân sách phân bổ hằng năm cho mở rộng dự trữ mới đáp ứng khoảng một phần nhu cầu thực tế. Đây là thách thức cân bằng tài chính thực sự với một nền kinh tế đang phát triển: chi phí lưu trữ là gánh nặng hiện hữu trong khi lợi ích bảo đảm chỉ hiện rõ khi khủng hoảng xảy ra. Bằng chứng từ cuộc khủng hoảng hiện tại đã cho thấy đây là khoản đầu tư khó có thể trì hoãn.
Quy hoạch Điện VIII của Việt Nam đặt LNG làm nhiên liệu chuyển tiếp trọng yếu với mục tiêu 37.330 MW điện khí đến 2030. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng hiện tại đã chỉ ra điểm yếu, khi Việt Nam không tự lực được nguồn cung hoặc phụ thuộc quá nhiều vào các khu vực có khả năng bất ổn cao. Theo đó, các kịch bản khủng hoảng, gián đoạn chuỗi cung ứng cần được tích hợp ngay từ giai đoạn hoạch định.
Như vậy, Việt Nam có thể hưởng lợi đáng kể từ một cơ chế theo dõi rủi ro địa chính trị chủ động và cập nhật hơn. Việc xây dựng khung phân tích tình huống sớm, kết nối thông tin địa chính trị với quyết định về an ninh quốc gia, tương tự cơ chế giám sát liên tục của IEA, sẽ giúp chuyển từ ứng phó khủng hoảng sang phòng ngừa chủ động. Song song đó, tính nhất quán và hợp lý của chính sách trong năng lượng tái tạo là điều kiện tiên quyết để thu hút vốn tư nhân dài hạn vào hạ tầng an ninh năng lượng mà ngân sách nhà nước đơn độc không thể kham nổi.
![]() |
| Tăng cường "sức đề kháng" an ninh năng lượng đòi hỏi đa dạng hóa nguồn cung, đẩy mạnh năng lượng tái tạo. Ảnh: An Thư |
PV: Vậy theo ông, trong ngắn hạn, Việt Nam cần làm gì để giảm rủi ro gián đoạn nguồn cung và biến động giá năng lượng?
TS. Nguyễn Sơn: Theo tôi, ưu tiên hàng đầu trong ngắn hạn là tìm kiếm nguồn dầu thô không phụ thuộc eo Hormuz. Về mặt kỹ thuật, ngành lọc hóa dầu Việt Nam đã chứng minh khả năng thực tế với các lô dầu từ Mỹ, Qatar và UAE. Dầu thô của Nga, vận chuyển trực tiếp từ các cảng trên Thái Bình Dương, là lựa chọn đáng ưu tiên. Nga vẫn đang chủ động chào dầu chiết khấu cho thị trường châu Á, trong khi quan hệ Việt Nam - Nga được duy trì ổn định.
Mỹ đã tạo tiền lệ cho các hoạt động này, với 30 ngày cho Ấn Độ mua dầu Nga ngay trong cuộc khủng hoảng này, tạo không gian ngoại giao cho các đàm phán tương tự. Các nguồn khác từ Tây Phi (Nigeria, Angola) cũng cần được khai thác và thăm dò tích cực.
Đề xuất của PetroVietnam tạm dừng xuất khẩu dầu thô để ưu tiên lọc trong nước là đúng hướng và cần triển khai. Lượng 4 triệu thùng vừa mua bổ sung cần được nâng thành chương trình thu mua liên tục, gắn với mở rộng đối thoại năng lượng cấp cao và các thỏa thuận liên chính phủ dài hạn. Chính sách ngoại giao "cây tre" của Việt Nam, khi duy trì quan hệ tốt với nhiều cực quyền lực, là lợi thế chiến lược cần khai thác tích cực.
Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đang phát huy hiệu quả, tuy nhiên, đây cũng là nguồn lực hữu hạn. Việt Nam cần xác định ngưỡng sử dụng và kế hoạch bổ sung quỹ. Tôi cho rằng, việc duy trì mức thuế MFN (ưu đãi) sau ngày 30/4 (theo Nghị định số 72/2026/NĐ-CP) nên được xem xét gia hạn có điều kiện dựa theo diễn biến giá thực tế.
Về định hướng hỗ trợ, ưu tiên tiếp cận có mục tiêu vào các ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp và có tầm quan trọng chiến lược, ví dụ logistics, ngư dân, nông nghiệp và các ngành sản xuất xuất khẩu chủ chốt, thay vì trợ giá quá đại trà vốn phân bổ lợi ích không cân xứng. Cách tiếp cận này vừa bảo toàn dư địa tài khóa, vừa bảo vệ đúng những ngành cốt lõi cho năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Việt Nam, dù đòi hỏi hệ thống quản trị và xác minh đối tượng thụ hưởng đi kèm.
PV: Xin cảm ơn ông!
Dành cho bạn
Đọc thêm
Để chính sách thuế mới thúc đẩy hộ kinh doanh phát triển
Nỗ lực giữ nhịp xuất khẩu giữa vòng xoáy áp lực
"Phép thử" khả năng vận hành thị trường trước cột mốc nâng hạng
Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"
“Mở khóa” động lực tăng trưởng mới cho kinh tế Việt Nam
Nâng hạng là điểm khởi đầu, nâng chất mới tạo sức hút và giữ dòng vốn dài hạn




