Tăng thương hiệu xuất khẩu “tỷ đô” cho nông sản Gia Lai

Gia Cư
(TBTCO) - Gia Lai có lợi thế về đất sản xuất nông nghiệp với hơn 837.600 ha. Việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn cho các loại cây trồng chủ lực có vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn hàng chất lượng phục vụ xuất khẩu, mỗi năm thu về hàng tỷ USD.
aa
Tăng thương hiệu xuất khẩu “tỷ đô” cho nông sản Gia Lai
Thu hoạch cà phê chất lượng cao tại Gia Lai. Ảnh: Sơn Nam

Đánh thức tiềm năng

Cà phê được xem là cây trồng chủ lực của tỉnh Gia Lai, với tổng diện tích khoảng 100 ngàn ha, trong đó, diện tích cà phê kinh doanh là 88.690 ha. Sau 2 năm triển khai đề án, toàn tỉnh có khoảng 5.600 ha cà phê trên địa bàn 7 huyện, thành phố tham gia Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông - lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022-2025.

Các doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) và người dân đã phát triển liên kết chuỗi với tổng diện tích 609 ha cà phê; xây dựng 1 nhà trưng bày sản phẩm cà phê; 6 tuyến đường giao thông nội đồng phục vụ đi lại, vận chuyển nông sản.

Ông Thái Như Hiệp - Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty Cà phê Vĩnh Hiệp cho biết, thực hiện chủ trương chuyển đổi, chế biến sâu nhằm nhằm nâng cao giá trị, tạo thương hiệu xuất khẩu nông sản, thời gian qua đơn vị đã xây dựng mạng lưới sản xuất cà phê bền vững theo các tiêu chuẩn thị trường quốc tế với sản lượng hàng năm trên 150 ngàn tấn.

Theo đó, để tham gia đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông - lâm sản đạt chuẩn phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022-2025, Công ty Vĩnh Hiệp đã giúp bà con nông dân trồng cà phê cập nhật các tình huống diễn ra trên vùng nguyên liệu và góp phần giải quyết các vấn đề như: truy xuất nguồn gốc, chuyển giao kỹ thuật, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh…

Toàn tỉnh hiện có khoảng 46 ngàn ha cà phê sản xuất theo các tiêu chuẩn: VietGAP, 4C, Organic, UTZ, Rainforest Alliance…; khoảng 90 nhà máy, cơ sở chế biến với nhiều thương hiệu nổi tiếng như L’amant, Thu Hà, Thanh Thủy; 31 sản phẩm OCOP (chương trình mỗi xã một sản phẩm) từ cà phê...

Định hướng đến năm 2030, Gia Lai sẽ duy trì ổn định khoảng 100 ngàn ha cà phê, trong đó, 80% diện tích cà phê sản xuất theo tiêu chuẩn xuất khẩu.

Theo ông Y Nguyên Ênuôl - Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn (PTNT), Sở Nông nghiệp (NN) và PTNT Gia Lai, để đạt mục tiêu này, ngành NN&PTNT tỉnh sẽ tiếp tục vận động người dân tái canh cà phê bằng các giống mới; xây dựng các chuỗi liên kết cà phê được chứng nhận đạt tiêu chuẩn, gắn với cấp mã vùng trồng và phát triển hệ thống điện tử truy xuất nguồn gốc.

Bên cạnh đó, tỉnh Gia Lai tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, bảo quản, chế biến và thương mại sản phẩm cho các HTX và doanh nghiệp liên kết tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, tỉnh tiếp tục đề xuất Bộ NN&PTNT cho ý kiến xây dựng trung tâm logistics chuỗi cà phê, trung tâm chuyển đổi số trong nông nghiệp, tại Cụm Công nghiệp số 2 huyện Đak Đoa để phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm.

“Trước mắt, tỉnh tập trung xây dựng các vùng sản xuất trái cây đặc sản gắn với du lịch nông nghiệp tại TP. Pleiku và các huyện: Đak Đoa, Mang Yang, Chư Prông, Chư Păh, Đức Cơ, Kbang. Đến năm 2030, phát triển diện tích cây ăn quả của tỉnh khoảng 90 ngàn ha; nhân rộng và phát triển mô hình vườn cây ăn quả gắn với du lịch nông nghiệp tại TP. Pleiku, thị xã An Khê, Ayun Pa và các huyện: Chư Prông, Ia Grai, Đak Đoa, Đak Pơ, Chư Păh, Mang Yang, Đức Cơ, Kbang, Ia Pa, Chư Pưh...” - ông Y Nguyên Ênuôl thông tin.

Xây dựng thương hiệu trọng tâm, trọng điểm

Ông Nguyễn Văn Luyến - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai cho biết, kể từ khi mặt hàng sầu riêng của Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc, ngành chức năng của huyện đã tuyên truyền, hướng dẫn hộ dân, HTX, doanh nghiệp trên địa bàn nắm bắt các tiêu chuẩn sản xuất, các quy định và yêu cầu của đối tác.

Trên địa bàn huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai hiện có khoảng 1.200 ha sầu riêng, trong đó, diện tích kinh doanh khoảng 710 ha. Hiện đã có 8 mã số vùng trồng sầu riêng với diện tích khoảng 160 ha. Vừa qua, HTX Minh Phát Farms (thị trấn Chư Prông) và HTX Nông nghiệp xanh Krông Pắk (tỉnh Đắk Lắk) đã ký kết hợp tác xuất khẩu sầu riêng sang thị trường Trung Quốc. Đây là cơ hội để phát triển bền vững ngành hàng sầu riêng trên địa bàn.

Tăng thương hiệu xuất khẩu “tỷ đô” cho nông sản Gia Lai
Chuẩn bị lô hàng cà phê xuất khẩu chất lượng cao. Ảnh: Sơn Nam

Theo ông Lưu Trung Nghĩa - Giám đốc Sở NN&PTNT Gia Lai, đến nay, trên địa bàn tỉnh có gần 256 ngàn ha cây trồng các loại sản xuất theo hướng tiêu chuẩn: VietGAP, GlobalGAP, 4C, Organic, Rainforest Alliance, FLO (chiếm 41,5% trên tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh). Trong đó, có 58.554 ha cây trồng đã được cấp chứng nhận sản xuất theo các tiêu chuẩn, gồm các sản phẩm cà phê, hồ tiêu, chè, rau, củ, trái cây, lúa…

Đặc biệt, toàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất có tính chất công nghệ cao, với tổng diện tích hơn 80 ngàn ha, tập trung vào các sản phẩm chính như: cà phê 30 ngàn ha, mía trên 34 ngàn ha, cây ăn quả trên 20 ngàn ha. Ngoài ra, còn có các loại cây trồng chủ lực giá trị khác. Có hơn 3 ngàn ha cây trồng ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm, kết hợp phân bón qua tưới.

Bên cạnh đó, tỉnh Gia Lai đã được cấp 227 mã số vùng trồng, với diện tích hơn 9.668 ha và 38 mã số cơ sở đóng gói, với tổng công suất đóng gói khoảng 1.500 - 1.700 tấn quả tươi/ngày, chủ yếu trái cây xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Úc, New Zealand, Hoa Kỳ…

Riêng nhóm hàng nông sản chiếm khoảng 80% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Nhiều mặt hàng nông sản đã xuất khẩu sang 40 nước trên thế giới. Ngành NN&PTNT đã tích cực phối hợp kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nhằm tạo ra các chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm hiệu quả./.

Theo Đề án phát triển sản xuất rau, hoa và cây ăn quả trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, định hướng đến năm 2040, Gia Lai phấn đấu đến năm 2025 phát triển diện tích cây ăn quả khoảng 55 ngàn ha.Tính đến nay, toàn tỉnh có 69 doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết với 95 HTX, 72 tổ hợp tác, 23.806 hộ nông dân liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với trên 237.300 ha các loại cây trồng chủ lực như: cà phê, hồ tiêu, cao su, cây ăn quả...
Gia Cư

Đọc thêm

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55 - 58% GDP; Việt Nam có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

(TBTCO) - Đối với Việt Nam, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD, tăng khoảng 30,3% so với năm 2021.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80