Thị trường tài chính quốc tế: Vòng quay giàu cảm xúc của vàng và tiền

Chí Tín
(TBTCO) - Những ảnh hưởng của hậu Covid-19 và các cuộc xung đột quân sự tạo ra những ảnh hưởng kép đối với thị trường tài chính quốc tế. Bước vào năm 2024, giới kinh doanh vẫn đứng trước nhiều tâm trạng đan xen, vừa hy vọng, vừa lo lắng.
aa
Thị trường tài chính quốc tế: Vòng quay giàu cảm xúc của vàng và tiền

Từ “diều hâu”, sang “bồ câu”

Kỳ vọng được nhiều nhà kinh doanh đặt ra đầu năm 2024 chính là động thái chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) và các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới sẽ chuyển từ “diều hâu” sang “bồ câu”. Cụ thể là chính sách của các ngân hàng trung ương - đặc biệt là FED - từ trạng thái rất cứng rắn kéo dài suốt gần năm sang chính sách mềm mỏng có thể sẽ xuất hiện từ 2024.

Động thái về chính sách của FED được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ nói riêng và thế giới nói chung đối diện với nhiều biến cố cả về mặt xã hội, kinh tế và chính trị.

Lãi suất và vàng trong trạng thái bấp bênh không chắc chắn

Mặc dù giới tài chính đều dự báo và đặt ra kỳ vọng về chu kỳ lãi suất giảm trong năm 2024 nhưng yếu tố này cũng chỉ là dự đoán và chưa có gì chắc chắn về thời điểm FED sẽ thực hiện việc này.

Các phát biểu của quan chức FED khẳng định đơn vị này chỉ cắt giảm lãi suất khi có dấu hiệu cho thấy nền kinh tế tăng trưởng chậm lại và lạm phát hạ nhiệt. Trong khi đó, giá vàng cũng sẽ biến động theo động thái thực tế của chính sách lãi suất, ngoài ra còn có khá nhiều yếu tố tác động đến kim loại quý này.

Nhìn lại năm 2023, hồi đầu năm, giá vàng từng lên cao do khủng hoảng ngân hàng địa phương tại Mỹ, đến tháng 10, vàng giảm xuống gần mức 1.800 USD/ounce, song đã nhanh chóng tăng trở lại nhờ lực cầu trú ẩn an toàn từ cuộc xung đột Hamas - Israel.

Sự ảnh hưởng của hậu Covid-19 vẫn tác động đến các nền kinh tế, trong đó lượng tiền cứu trợ Covid-19 được các chính phủ bơm vào nền kinh tế trong giai đoạn dịch bệnh xảy ra, là một trong những yếu tố xuất hiện lạm phát. Ngoài ra, xung đột Nga - Ukraine cũng gây áp lực lên giá hàng hóa và năng lượng tăng cao do thiếu hụt nguồn cung…

Tại Mỹ, lạm phát ngày càng tăng cao trong năm 2021 và tiếp tục kéo dài trong năm 2022, với mức đỉnh có lúc lên hơn 9% trong năm 2022. Trong bối cảnh này, FED đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt trong một thời gian dài. Cụ thể trong suốt gần 2 năm qua, thị trường tài chính toàn cầu luôn luôn trong tâm trạng căng thẳng bởi các đợt tăng lãi suất không ngừng nghỉ của FED, tổng số lần tăng trong 2022 - 2023 là 11 lần.

Thái độ quyết liệt của FED về chính sách lãi suất đã có những tác động rõ ràng, khi chỉ số lạm phát ở quốc gia này đã đi vào xu hướng hạ nhiệt dần từ giữa năm 2022 đến cuối năm 2023.

Tuy nhiên, liều thuốc nào cũng có thể có những phản ứng phụ và một trong những phản ứng phụ của chính sách tiền tệ thắt chặt của FED đã làm “nghẹt thở” một số tổ chức tài chính. Đỉnh điểm là sự cố phá sản xảy ra với diễn ra tại Ngân hàng Silicon Valley (SVB) và sau đó là một số ngân hàng khác của Mỹ.

Hiệu ứng không chỉ trong phạm vi nước Mỹ mà còn lan truyền sang châu Âu, trong đó dẫn đến việc ngân hàng danh tiếng và có bề dày lịch tới tới 167 năm của Thụy Sỹ là Credit Suisse cũng buộc phải bị mua lại bởi Ngân hàng UBS.

Đổ vỡ của SVB liên quan trực tiếp đến chính những rủi ro biến động của lãi suất và sự kiện này làm ngỡ ngàng giới tài chính bởi nó là một minh chứng cho thấy ngay cả với những tài sản vốn được coi là không có rủi ro cũng vẫn có thể có rủi ro.

Chẳng hạn như với SVB, những khoản đầu tư vào trái phiếu Chính phủ Mỹ, vốn luôn được định giá hệ số rủi ro bằng 0, đến nay cho dù điều đó vẫn đúng, nhưng không phải ở mọi góc độ. Trái phiếu Chính phủ Mỹ, với uy tín và năng lực tài chính của Chính phủ Mỹ thì rõ ràng không thể có rủi ro tổ chức phát hành “quỵt nợ” trái phiếu. Tuy nhiên, rủi ro khác lại vẫn xảy ra và nó đã xảy ra với SBV khi trái phiếu liên tục giảm giá trong môi trường lãi suất mỗi ngày một tăng cao.

Tuy nhiên, những động thái của FED từ giai đoạn cuối năm 2023 đã cho thấy thái độ bớt “diều hâu” hơn, thể hiện là cơ quan này đã giữ nguyên lãi suất điều hành trong 3 cuộc họp gần đây. Một trong những lý do khiến FED có thái độ ôn hòa hơn về chính sách lãi suất là do tỷ lệ lạm phát ở Mỹ đã hạ nhiệt trong những tháng cuối năm 2023.

Động thái của FED được dự báo sẽ chuyển từ chính sách “diều hâu” kéo dài gần 2 năm sang chính sách “bồ câu” có thể sẽ xuất hiện từ năm 2024 và các nhà đầu tư kỳ vọng lạm phát và lãi suất của Mỹ đều sẽ hạ nhiệt trong thời gian tới. Công cụ FED Watch dự báo lãi suất của FED đưa tỷ lệ khả năng 64% lãi suất của Mỹ sẽ giảm xuống 5-5,25% vào tháng 3/2024. Tỷ lệ này cao hơn khá nhiều so với tỷ lệ dự báo 31,9% về việc FED vẫn giữ nguyên lãi suất ở mức 5,25 - 5,5% vào thời điểm này.

Vòng quay tiền vàng

Những kỳ vọng về chính sách “bồ câu” của FED cũng không hoàn toàn tạo ra một sự yên ả cho thị trường tài chính quốc tế mà cơn sóng từ trạng thái này chuyển dịch sang trạng thái khác. Một trong những sóng gió mới nổi diễn ra trên thị trường tài chính toàn cầu là những tín hiệu “nổi dậy” của thị trường vàng.

Những dự báo về lãi suất đồng USD giảm dẫn đến xu hướng chuyển dịch dự trữ USD sang dự trữ vàng. Ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc của AFA Capital cho biết, ngay cả các ngân hàng trung ương của một số quốc gia cũng tăng dự trữ vàng thay vì đồng USD như trước đây.

Một trong những tín hiệu cho thấy xu hướng dự trữ ngoại hối bằng đồng USD không còn được ưa chuộng như trước đây là sự giảm giá của đồng tiền này trong giai đoạn cuối năm 2023. Theo đó, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng USD sau khi đạt đỉnh hơn 106 điểm vào cuối tháng 10/2023 đã quay đầu giảm có lúc về mức chỉ hơn 100 điểm. Đầu năm 2024, chỉ số này có chút tín hiệu phục hồi nhưng vẫn còn ở mặt bằng thấp chỉ khoảng hơn 102 điểm.

Thị trường tài chính quốc tế: Vòng quay giàu cảm xúc của vàng và tiền
Diễn biến giá vàng trong thời gian tới đang tiếp tục là ẩn số. Ảnh minh họa

Những biến động của đồng USD đã có ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng thế giới, đặc biệt đầu tháng 12/2023, vàng có lúc tăng dựng đứng đạt đỉnh 2.135 USD/ounce. Mặc dù vậy, giá vàng sau đó đã điều chỉnh giảm và đến đầu tháng 1/2024 chỉ còn quanh mốc 2.040 USD/ounce.

Diễn biến giá vàng trong thời gian tới đang tiếp tục là ẩn số bởi có khá nhiều yếu tố khác nhau có thể tác động lên giá của kim loại quý này. Một số nhà phân tích cho rằng, giá vàng giai đoạn đầu tháng 1/2024 giảm vì đồng USD đã hồi phục chút ít. Ngoài ra, ông Ole Hansen, người đứng đầu Phòng Chiến lược hàng hóa của Saxo Bank cho biết, vàng đang giảm do dữ liệu kinh tế Mỹ mạnh hơn dự kiến ​​đã khiến lợi suất trái phiếu tăng và kỳ vọng hạ lãi suất của Mỹ thấp hơn.

Các chuyên gia tài chính cho biết, giá vàng không chỉ phụ thuộc vào động thái của FED, cũng như biến động của đồng USD. Kim loại quý này còn tỏ ra khá nhạy cảm với các biến động chính trị, đặc biệt là các rủi ro xung đột vũ trang tương tự như cuộc chiến Hamas - Israel nổ ra năm 2023 đã làm cho giá vàng có giai đoạn bùng nổ sau đó. Phân tích về một trong những nguyên nhân có thể tác động giá vàng, TS.Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, xung đột địa chính trị trên thế giới nếu vẫn tiếp diễn thì vàng trở thành một kênh trú ẩn tài chính an toàn hơn các kênh đầu tư khác./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi ngang, trong đó vàng nhẫn được niêm yết cao nhất ở mức 150 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 14/09/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 14/09/2026 06:30
Ngân hàng