Thị trường vàng: Nhiều câu hỏi chưa có lời đáp

Hoàng Yến
Thị trường vàng và chính sách quản lý vàng là một điểm nóng được báo chí đề cập liên tục trong thời gian gần đây. Nhiều lời đã nói, nhiều chính sách đã được thực hiện. Cũng có cả mốc thời gian đã trôi qua, nhưng những diễn biến trên thị trường vàng đang khiến người ta đi từ câu hỏi này sang câu hỏi khác mà chưa tìm được lời giải hợp lý.
aa

Vang SJC

Vàng miếng nhãn hiệu SJC. Ảnh: SJC

Vàng để làm gì?

Tháng 7 là mốc thời gian được những người quan tâm đến thị trường vàng chờ đợi, để xem kết quả thị trường ra sao sau thời hạn các ngân hàng phải chính thức chấm dứt việc cho vay và huy động vàng theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Để đáp ứng nhu cầu tất toán vàng của các ngân hàng, NHNN đã liên tục bán ra hàng chục tấn vàng kể từ đầu năm. Mặc dù ước tính nhu cầu vàng để tất toán của các ngân hàng vào khoảng hơn 20 tấn, nhưng trên thực tế, trong vòng chưa đầy 4 tháng (tính đến ngày 22/7), NHNN đã bán ra xấp xỉ 50 tấn vàng và dự kiến vẫn còn tiếp tục bán ra.

Nếu so sánh, có thể thấy con số này gần bằng mức nhập khẩu vàng chính thức cả năm của NHNN trước đây (khoảng 50 – 60 tấn vàng/năm).

Câu hỏi đặt ra trước tiên là vàng bán ra nhiều thế để làm gì ? Nếu các ngân hàng mua để bù đắp các khoản cho vay và huy động trước đây, thì câu hỏi tiếp theo là thực sự các ngân hàng đã cho vay nhiều đến mức nào, và bao nhiêu vàng nữa mới đủ?

Có một lý do khác để các ngân hàng mua vàng là để kinh doanh trong hạn mức NHNN cho phép là 2% vốn tự có. Nếu tính hạn mức 2% vốn tự có khoảng trên dưới 10 nghìn tỷ đồng của một ngân hàng, thì số vàng mỗi ngân hàng được mua vào khoảng 5.000 – 6.000 lượng, không nhiều nhặn gì so với số vàng được mua vào lâu nay.

Ngoài các ngân hàng, đối tượng mua vàng của NHNN là các doanh nghiệp kinh doanh vàng. Các doanh nghiệp này chủ yếu đáp ứng nhu cầu mua bán vàng của người dân. Nếu họ mua vàng nhiều như vậy và bán ra thị trường, liệu có phải xu hướng “vàng hóa” đang được cổ vũ?

Mặt khác, cũng có ý kiến lo ngại việc các doanh nghiệp kinh doanh vàng có tiềm lực tài chính lớn, có khả năng tích trữ một lượng vàng lớn và tạo ra những “cơn sóng” trên thị trường vàng. Trong khi đó, quy định quản lý về các chỉ tiêu tài sản, tín dụng đối với các công ty này không chặt chẽ như với các tổ chức tín dụng.

Bao giờ giá vàng trong nước mới tiệm cận giá thế giới?

Đối với nguồn vàng đấu thầu, cũng có nhiều vấn đề đáng băn khoăn. Để nhập khẩu vàng, NHNN sẽ phải sử dụng ngoại tệ từ nền kinh tế. Vì thế, việc nhập khẩu vàng nhiều chắc chắn ảnh hưởng đến tỷ giá, đến CPI, đến dự trữ ngoại hối.

Có một yếu tố thuận lợi khiến NHNN “dư dả” để nhập khẩu vàng trong giai đoạn này là dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đang tăng đáng kể (báo cáo của ngân hàng HSBC ước tính dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng dần từ mức 17 tỷ USD quý 3/2012 lên mức 24 tỷ USD trong quý 2 năm nay và sẽ còn tăng tiếp tục).

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc sử dụng vàng và USD quá nhiều sẽ làm tổn hại đến khả năng quản lý chính sách tiền tệ của NHNN. Một quan chức NHNN cho biết, thời gian tới NHNN có thể sẽ mua vàng lại từ thị trường, cung tiền đồng ra nền kinh tế. Ý định sử dụng vàng như một công cụ điều tiết tiền đồng hàm chứa nhiều rủi ro, trong khi chính NHNN đang muốn chống vàng hóa.

Không thể phủ nhận những kết quả từ chính sách quản lý thị trường vàng, chống vàng hóa của NHNN, như việc sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán gần như đã chấm dứt, vàng không còn được cho vay hay huy động trong ngân hàng, gây rủi ro cao cho hệ thống tín dụng, hiện tượng “sốt vàng”, đầu cơ vàng đã được kiềm chế… Tuy nhiên, một trong những mục tiêu được quan tâm nhất là thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới lại chưa đạt được, mà thậm chí mức độ chênh lệch còn cao hơn.

Là nơi độc quyền nhập khẩu vàng, khoảng cách này có thể được NHNN điều chỉnh thông qua đấu thầu vàng. Tuy nhiên, việc NHNN liên tục bán vàng ra với giá tương đương giá thị trường và cao hơn giá thế giới vài triệu đồng/lượng trong thời gian qua đã duy trì khoảng cách xa giữa giá vàng trong nước và giá thế giới.

Khi nào giá vàng trong nước mới về sát với giá vàng thế giới, tiếp tục là một câu hỏi lớn nữa mà dư luận chờ được giải đáp?!.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,300
Hà Nội - PNJ 140,300 143,300
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,300
Miền Tây - PNJ 140,300 143,300
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,300
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17568 17840 18416
CAD 17711 17985 18604
CHF 30684 31060 31702
CNY 0 3836 3932
EUR 28495 28712 29792
GBP 33576 33964 34901
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14231 14818
SGD 19771 20052 20622
THB 687 751 804
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,815 25,815 26,195
USD(1-2-5) 24,783 - -
USD(10-20) 24,783 - -
EUR 28,557 28,580 29,936
JPY 160.35 160.64 170.37
GBP 33,791 33,882 35,054
AUD 17,770 17,834 18,510
CAD 17,902 17,959 18,619
CHF 30,971 31,067 31,978
SGD 19,894 19,956 20,740
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 736.8 745.9 798.17
NZD 14,242 14,374 14,801
SEK - 2,544 2,634
DKK - 3,831 3,966
NOK - 2,657 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.37 - 6,709.49
TWD 739.25 - 895.07
SAR - 6,807.85 7,171.9
KWD - 82,065 87,324
AED - 6,823 7,353
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17747 17847 18770
CAD 17901 18001 19012
CHF 30954 30984 32566
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28683 28713 30446
GBP 33888 33938 35693
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14343 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19931 20061 20782
THB 0 716.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 06/10/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30