Tiềm năng của nghề tư vấn bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Nhận thức ngày càng cao của người dân về rủi ro sức khỏe và tài chính khiến nghề tư vấn bảo hiểm nhân thọ được xem là một trong những công việc có sức hút lớn trong thời gian tới, nhất là khi thị trường bảo hiểm nhân thọ đã qua giai đoạn chuyển đổi và đang trên đà phát triển.
aa

Dư địa lớn cho nhân sự tư vấn bảo hiểm

Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, đến hết năm 2024, chỉ khoảng 11% dân số Việt Nam tham gia bảo hiểm nhân thọ. Con số này tại Philippines là khoảng 38%, Malaysia 50%, Singapore 71% và Mỹ là 52%. Nhà nước đã đặt ra mục tiêu 15% dân số Việt Nam tham gia bảo hiểm nhân thọ trong năm 2025 và tăng lên đến 18% vào năm 2030. Dư địa phát triển của thị trường bảo hiểm trong tương lai là rất lớn.

Một thực tế không thể phủ nhận là sau đại dịch Covid, người dân đã quan tâm tới sức khỏe nhiều hơn. Điều này góp phần thúc đẩy họ tìm đến bảo hiểm như một công cụ bảo vệ tài chính trước những rủi ro bất ngờ. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam sẽ đạt 26,9 tỷ USD vào năm 2029. Không chỉ là giải pháp bảo vệ, bảo hiểm cũng được xem là một công cụ tích lũy mới để phục vụ nhu cầu tài chính đa dạng của khách hàng, bên cạnh chứng chỉ quỹ, chứng khoán, tiền gửi ngân hàng… Các dòng sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư vừa có tính năng bảo vệ, vừa có tính năng tích lũy đã ngày càng trở nên phổ biến hơn.

Tiềm năng của nghề tư vấn bảo hiểm nhân thọ
Nghề tư vấn bảo hiểm nhân thọ được đánh giá có tiềm năng phát triển lớn trong tương lai. Ảnh Thu Hằng

Đáng chú ý, ngành bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam vừa trải qua giai đoạn chuyển đổi và đang trên đà phục hồi. Hành lang pháp lý của ngành đã được cải thiện và thay đổi đáng kể theo hướng chặt chẽ, minh bạch hơn sau những cải cách trong năm 2024. Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng có những bước chuyển mình mạnh mẽ như tăng cường số hóa, chú trọng đào tạo chuyên môn, đổi mới sản phẩm, đặc biệt là tăng cường đào tạo các kiến thức nền tảng về y khoa, giúp tư vấn viên hỗ trợ sát hơn với thực tiễn và nhu cầu của khách hàng. Tất cả điều này đã tạo nền tảng tích cực cho sự phát triển của nghề tư vấn bảo hiểm trong thời gian tới.

Sự nghiệp vững chắc từ nghề tư vấn bảo hiểm

Trên thực tế, nghề tư vấn bảo hiểm đã có mặt tại Việt Nam hơn 20 năm. Trong thời gian đó, hàng trăm nghìn người đã có được công việc và phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực này. Nghề tư vấn bảo hiểm không chỉ mang lại thu nhập ổn định, cơ hội thăng tiến rõ ràng mà còn tạo ra giá trị nhân văn và tác động tích cực đến xã hội, giúp người dân có khoản dự phòng trước rủi ro về sức khỏe, cũng như góp phần giảm áp lực lên nguồn ngân sách y tế của nhà nước.

Chị Trần Thị Thanh, một chuyên gia tư vấn bảo hiểm tại TP. Hồ Chí Minh cho biết, sau 6 năm gia nhập ngành này, từ một người hướng nội, làm hành chính văn phòng suốt 12 năm, chị đã có được một sự nghiệp vững chắc. Theo chị Thanh, công việc này cho phép chị chủ động sắp xếp thời gian, tự chủ tài chính và có cơ hội mở rộng quan hệ thông qua việc gặp gỡ khách hàng đến từ nhiều ngành nghề khác nhau. Việc liên tục được đào tạo, gần đây nhất là trang bị chuyên sâu các kiến thức y khoa, là một trong những yếu tố giúp chị Thanh tự tin phát triển trong lĩnh vực này.

Anh Bùi Đình Thọ (Hà Nội) từng là một kiến trúc sư trước khi quyết định rẽ hướng sang lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Sau 7 năm gắn bó, anh hiện là quản lý của một đội ngũ hoạch định tài chính chuyên nghiệp. Công việc này không chỉ giúp anh phát triển sự nghiệp cá nhân, mà còn tạo điều kiện để nhiều người chuyển đổi công việc thành công và xây dựng sự nghiệp ổn định trong ngành.

Theo anh Thọ, việc hỗ trợ khách hàng tiếp cận các giải pháp tài chính phù hợp, đồng thời chứng kiến sự trưởng thành của đội ngũ tư vấn viên là động lực để anh tiếp tục gắn bó lâu dài với nghề. “Mọi công việc đều có thách thức, nhưng nếu kiên trì theo đuổi mục tiêu với định hướng rõ ràng và tinh thần cầu thị, thành quả sẽ đến một cách xứng đáng”, anh chia sẻ.

Tiềm năng của nghề tư vấn bảo hiểm nhân thọ
Anh Bùi Đình Thọ xây dựng sự nghiệp và tự chủ tài chính trong ngành bảo hiểm nhân thọ.

Trong khi đó, chuyên gia tư vấn Phạm Văn Tám (phường Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh) cho rằng, bên cạnh mức thu nhập xứng đáng cùng cơ hội thăng tiến rõ ràng, công việc trong ngành bảo hiểm nhân thọ còn giúp anh mang lại những giá trị tích cực cho xã hội. Gia nhập Manulife từ năm 2001, sau hơn hai thập kỷ, anh đã đồng hành và bảo vệ cho hàng trăm khách hàng. Nhiều người trong số đó, nhờ tham gia bảo hiểm đã có nguồn tài chính để vượt qua bệnh tật. Những người không chiến thắng số phận, gia đình của họ đã được thụ hưởng số tiền chi trả từ bảo hiểm để tiếp tục duy trì cuộc sống. Nhiều khách hàng của anh đã khởi nghiệp thành công nhờ số tiền tích lũy từ bảo hiểm.

Bắt đầu hành trình My New Life tại Manulife, bạn không chỉ đạt được thu nhập xứng đáng với nỗ lực, mà còn xây dựng sự nghiệp bền vững với lộ trình rõ ràng, từng bước chạm đến thành công và kiến tạo một cuộc sống mới đầy triển vọng.

Bắt đầu hành trình My New Life tại Manulife, bạn không chỉ đạt được thu nhập xứng đáng với nỗ lực, mà còn xây dựng sự nghiệp bền vững với lộ trình rõ ràng, từng bước chạm đến thành công và kiến tạo một cuộc sống mới đầy triển vọng.

Tại Manulife, mỗi tư vấn viên không chỉ được trang bị kiến thức chuyên môn về tài chính - bảo hiểm, mà còn được đào tạo kiến thức thiết yếu về sức khỏe cộng đồng thông qua việc hợp tác với các tổ chức uy tín như Trường Đại học Y Hà Nội. Điều này đã tạo nên lợi thế khác biệt, giúp tư vấn viên Manulife trở thành chuyên gia trong lĩnh vực của mình, đồng thời trở thành những người bạn đồng hành tận tâm, mang đến những giải pháp toàn diện, góp phần giúp cuộc sống người Việt tốt hơn mỗi ngày. Tìm hiểu thêm tại www.manulife.com.vn.

Tuấn Anh

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80