Tín dụng toàn hệ thống bứt phá mạnh 9,9% nửa đầu 2025, nợ xấu giảm về mức thấp nhất 3 năm

Thu Hương
(TBTCO) - Tín dụng toàn hệ thống ngân hàng nửa đầu năm 2025 tăng 9,9% so với đầu năm – mức tăng cao nhất trong hơn một thập kỷ, chủ yếu nhờ sự bứt phá của khối ngân hàng thương mại. Đồng thời, chất lượng tài sản được cải thiện rõ rệt với tỷ lệ nợ xấu giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm, mở ra kỳ vọng tích cực cho nửa cuối năm.
aa

Tín dụng bứt tốc mạnh mẽ

Trong 6 tháng đầu năm 2025, tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt mức tăng trưởng 9,9% so với đầu năm, theo phân tích của S&I Ratings, đây là con số cao nhất kể từ năm 2012. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ khối ngân hàng thương mại cổ phần, đặc biệt là các ngân hàng tập trung cho vay doanh nghiệp. Ngược lại, khối quốc doanh và một số ngân hàng bán lẻ chỉ duy trì tốc độ khiêm tốn trong khoảng 6–9%. Sự phân hóa này phản ánh rõ nét sự khác biệt trong chiến lược hoạt động cũng như khẩu vị rủi ro của từng nhóm ngân hàng.

Xét theo lĩnh vực, dư nợ cho vay sản xuất, xây dựng và thương mại – dịch vụ đều tăng trưởng tốt, đồng thời dư nợ cho vay bất động sản và dịch vụ tài chính cũng tăng mạnh tại một số ngân hàng. Điều này phản ánh xu hướng dịch chuyển sang các lĩnh vực tiềm năng sinh lời cao nhưng đi kèm rủi ro lớn hơn. Đặc biệt, dư nợ cho vay các công ty chứng khoán ghi nhận mức tăng từ 11–15 nghìn tỷ đồng tại nhiều ngân hàng, minh chứng cho sức bật mạnh mẽ của nhóm này trong bối cảnh thị trường.

Tín dụng toàn hệ thống bứt phá mạnh 9,9% nửa đầu 2025, nợ xấu giảm về mức thấp nhất 3 năm

Đáng chú ý, ngày 31/7, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định nới “room” tín dụng cho các tổ chức tín dụng đã sử dụng trên 80% hạn mức đầu năm, mở ra dư địa tăng trưởng trong nửa cuối năm. Với động thái này, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% mà Chính phủ đề ra được đánh giá khả thi, thậm chí có thể chạm 17–18% nếu nhu cầu vốn duy trì ổn định cùng đà phục hồi kinh tế. Trong bức tranh tổng thể, một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn được dự báo có thể đạt mức tăng trưởng tín dụng vượt trội 25–30%, cao hơn hẳn mặt bằng chung.

Cùng với tăng trưởng tín dụng, chất lượng tài sản ngành ngân hàng cũng có sự cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ nợ nhóm 2 giảm xuống còn 1,24% – mức thấp nhất trong 3 năm, trong khi nợ xấu giảm về 2,03%, giảm 12 điểm so với quý trước và 20 điểm so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo Nghị định 86/2024/NĐ-CP, tài sản bảo đảm là bất động sản nếu quá 2 năm kể từ khi các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền xử lý, sẽ không còn được khấu trừ khi tính dự phòng. Quy định này có thể làm gia tăng chi phí dự phòng, đặc biệt tại những ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 5 duy trì ở mức cao và kéo dài.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc dư nợ tăng nhanh, kéo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ xuống, đồng thời công tác xử lý nợ xấu được đẩy mạnh với tổng giá trị xử lý trong quý II đạt 37,1 nghìn tỷ đồng, tăng 36% so với quý trước. Tuy nhiên, sự cải thiện này tập trung ở nhóm ngân hàng lớn và vừa, còn một số ngân hàng nhỏ lại chứng kiến nợ xấu gia tăng, đặt ra những thách thức không nhỏ.

Một thách thức lớn nằm ở bộ đệm dự phòng khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành chỉ quanh 80%, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2021–2022. Sự phân hóa diễn ra rõ nét: các ngân hàng nhỏ có bộ đệm yếu, trong khi nhóm lớn lại tăng mạnh trích lập dự phòng nhờ lợi nhuận hoạt động khả quan

Bên cạnh đó, biên lãi ròng (NIM) cũng tiếp tục thu hẹp, xuống mức 3,18% trong quý II – thấp nhất kể từ năm 2018. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc lãi suất cho vay giảm 60 điểm cơ bản so với cuối 2024, theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, trong khi chi phí vốn lại tăng thêm 25 điểm cơ bản do các ngân hàng phải đẩy mạnh huy động kỳ hạn dài. Thêm vào đó, áp lực cạnh tranh từ các gói cho vay ưu đãi của khối quốc doanh buộc các ngân hàng thương mại cổ phần phải điều chỉnh giảm lãi suất, khiến biên lợi nhuận tiếp tục chịu sức ép.

Thu nhập ngoài lãi dẫn dắt lợi nhuận

Tuy nhiên, dù biên lãi ròng giảm, lợi nhuận toàn ngành vẫn được hỗ trợ bởi thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, tăng 26% so với cùng kỳ, trong khi thu nhập lãi thuần chỉ tăng 8,5%. Nguồn thu ngoài lãi chủ yếu đến từ xử lý nợ xấu – tăng gấp đôi nhờ bất động sản phục hồi, cùng với hoạt động mua bán chứng khoán tăng trưởng vượt trội. Ngược lại, các mảng dịch vụ cốt lõi như thu phí và kinh doanh ngoại hối chỉ tăng trưởng khiêm tốn, hạn chế đóng góp vào lợi nhuận chung.

Tín dụng toàn hệ thống bứt phá mạnh 9,9% nửa đầu 2025, nợ xấu giảm về mức thấp nhất 3 năm

Triển vọng nửa cuối năm cho thấy NIM có khả năng tạo đáy vào cuối 2025 khi tín dụng thường tăng tốc, từ đó cải thiện lợi suất cho vay. Tuy nhiên, áp lực huy động vốn dự kiến vẫn hiện hữu, đặc biệt với các ngân hàng quy mô nhỏ có nền CASA thấp và chi phí vốn tăng nhanh. Trong bối cảnh đó, thu nhập ngoài lãi tiếp tục được kỳ vọng là điểm tựa quan trọng, với xử lý nợ xấu vẫn là động lực lớn.

Hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng bùng nổ, đạt 193 nghìn tỷ đồng trong nửa đầu năm, gấp đôi cùng kỳ 2024, đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn. Lãi suất phát hành cao hơn nhẹ so với lãi suất tiền gửi 12 tháng, góp phần khiến chi phí vốn toàn ngành tăng thêm khoảng 25 điểm cơ bản.

Xét về nền tảng vốn, tỷ lệ vốn chủ sở hữu hữu hình trên tổng tài sản (TCE/TA) của khối quốc doanh và ngân hàng nhỏ gần như không đổi trong quý II, trong khi nhóm lớn và vừa giảm nhẹ do chi trả cổ tức tiền mặt. Để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn, nhiều ngân hàng lựa chọn phát hành trái phiếu để bổ sung vốn cấp 2, đồng thời ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu nhằm giữ lại nguồn lực cho tăng trưởng dài hạn.

Chỉ số CASA toàn ngành cũng phục hồi nhẹ sau khi giảm trong quý I, đạt trung bình 22% ở nhóm ngân hàng lớn, 15% ở nhóm vừa và chỉ 7,5% ở nhóm nhỏ. Khối quốc doanh tiếp tục duy trì lợi thế với CASA đạt 26,8%, giúp giảm chi phí vốn. Trái lại, nhóm nhỏ phải chịu áp lực chi phí vốn cao do CASA thấp.

Về cân đối huy động và tín dụng, đến cuối tháng 6, huy động tăng 10% trong khi tín dụng tăng 10,2%, cho thấy khoảng cách được rút ngắn nhờ phát hành giấy tờ có giá. Thanh khoản hệ thống nhìn chung ổn định, song vẫn xuất hiện căng thẳng cuối quý do nhu cầu giải ngân lớn và yếu tố ngân sách, khiến lãi suất liên ngân hàng qua đêm có lúc tăng vọt lên 8,75%. Trước tình hình này, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời bơm ròng quy mô lớn qua kênh OMO – mức cao nhất từ năm 2017 nhằm ổn định thị trường.

Dự báo cho nửa cuối năm, áp lực tăng lãi suất huy động sẽ còn lớn khi tín dụng tiếp tục tăng tốc và tỷ giá biến động khó lường, đồng nghĩa với không gian nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ thu hẹp. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng cần cân đối hài hòa giữa tăng trưởng tín dụng, quản trị rủi ro và tối ưu hóa cơ cấu vốn để vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh, vừa duy trì an toàn hệ thống.

Thu Hương

Đọc thêm

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

ABBank được vinh danh 2 giải thưởng quốc tế về công nghệ và ngân hàng bán lẻ

(TBTCO) - Việc đồng thời nhận hai giải thưởng tại Global Banking & Finance Awards® 2026 cho thấy dấu ấn ngày càng rõ nét của ABBank trong chuyển đổi số và mở rộng hoạt động bán lẻ. Đây cũng là sự ghi nhận quốc tế đối với chiến lược đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao trải nghiệm khách hàng của ABBank.
HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

HDBank mở rộng giải pháp tài chính toàn diện, đồng hành doanh nghiệp tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Khi chuyển đổi số bước sang giai đoạn lấy dữ liệu làm trung tâm, doanh nghiệp không chỉ cần một ngân hàng cung cấp vốn mà cần một đối tác tài chính được tích hợp trực tiếp vào quy trình vận hành. Đó là nền tảng để HDBank chính thức mở rộng hệ sinh thái tài chính số thông qua hợp tác với MISA, đưa các giải pháp tài chính hiện đại đến cộng đồng doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên cả nước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17596 17869 18449
CAD 17977 18252 18866
CHF 31858 32239 32882
CNY 0 3833 3926
EUR 29378 29599 30677
GBP 34024 34414 35346
HKD 0 3224 3426
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14603 15188
SGD 19762 20043 20609
THB 705 768 821
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,495 29,519 30,903
JPY 157.28 157.56 166.96
GBP 34,202 34,295 35,459
AUD 17,810 17,874 18,532
CAD 18,155 18,213 18,870
CHF 32,110 32,210 33,124
SGD 19,890 19,952 20,716
CNY - 3,803 3,945
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.56 16.23 17.64
THB 752.88 762.18 814.84
NZD 14,583 14,718 15,141
SEK - 2,660 2,752
DKK - 3,946 4,082
NOK - 2,604 2,695
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,021.97 - 6,792.46
TWD 745.87 - 902.82
SAR - 6,882.79 7,243.76
KWD - 83,142 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26466
AUD 17801 17901 18832
CAD 18158 18258 19270
CHF 32117 32147 33721
CNY 3816.6 3841.6 3977
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29560 29590 31315
GBP 34340 34390 36148
HKD 0 3355 0
JPY 158.18 158.68 169.19
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14708 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19932 20062 20785
THB 0 734.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14800000
SBJ 13000000 13000000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,136 26,186 26,466
USD20 26,136 26,186 26,466
USD1 23,946 26,186 26,466
AUD 17,841 17,941 19,045
EUR 29,699 29,699 31,108
CAD 18,095 18,195 19,503
SGD 20,004 20,154 20,717
JPY 158.63 160.13 164.69
GBP 34,219 34,569 35,441
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80