Tín dụng toàn hệ thống bứt phá mạnh 9,9% nửa đầu 2025, nợ xấu giảm về mức thấp nhất 3 năm

Thu Hương
(TBTCO) - Tín dụng toàn hệ thống ngân hàng nửa đầu năm 2025 tăng 9,9% so với đầu năm – mức tăng cao nhất trong hơn một thập kỷ, chủ yếu nhờ sự bứt phá của khối ngân hàng thương mại. Đồng thời, chất lượng tài sản được cải thiện rõ rệt với tỷ lệ nợ xấu giảm xuống mức thấp nhất trong 3 năm, mở ra kỳ vọng tích cực cho nửa cuối năm.
aa

Tín dụng bứt tốc mạnh mẽ

Trong 6 tháng đầu năm 2025, tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt mức tăng trưởng 9,9% so với đầu năm, theo phân tích của S&I Ratings, đây là con số cao nhất kể từ năm 2012. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ khối ngân hàng thương mại cổ phần, đặc biệt là các ngân hàng tập trung cho vay doanh nghiệp. Ngược lại, khối quốc doanh và một số ngân hàng bán lẻ chỉ duy trì tốc độ khiêm tốn trong khoảng 6–9%. Sự phân hóa này phản ánh rõ nét sự khác biệt trong chiến lược hoạt động cũng như khẩu vị rủi ro của từng nhóm ngân hàng.

Xét theo lĩnh vực, dư nợ cho vay sản xuất, xây dựng và thương mại – dịch vụ đều tăng trưởng tốt, đồng thời dư nợ cho vay bất động sản và dịch vụ tài chính cũng tăng mạnh tại một số ngân hàng. Điều này phản ánh xu hướng dịch chuyển sang các lĩnh vực tiềm năng sinh lời cao nhưng đi kèm rủi ro lớn hơn. Đặc biệt, dư nợ cho vay các công ty chứng khoán ghi nhận mức tăng từ 11–15 nghìn tỷ đồng tại nhiều ngân hàng, minh chứng cho sức bật mạnh mẽ của nhóm này trong bối cảnh thị trường.

Tín dụng toàn hệ thống bứt phá mạnh 9,9% nửa đầu 2025, nợ xấu giảm về mức thấp nhất 3 năm

Đáng chú ý, ngày 31/7, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định nới “room” tín dụng cho các tổ chức tín dụng đã sử dụng trên 80% hạn mức đầu năm, mở ra dư địa tăng trưởng trong nửa cuối năm. Với động thái này, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% mà Chính phủ đề ra được đánh giá khả thi, thậm chí có thể chạm 17–18% nếu nhu cầu vốn duy trì ổn định cùng đà phục hồi kinh tế. Trong bức tranh tổng thể, một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn được dự báo có thể đạt mức tăng trưởng tín dụng vượt trội 25–30%, cao hơn hẳn mặt bằng chung.

Cùng với tăng trưởng tín dụng, chất lượng tài sản ngành ngân hàng cũng có sự cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ nợ nhóm 2 giảm xuống còn 1,24% – mức thấp nhất trong 3 năm, trong khi nợ xấu giảm về 2,03%, giảm 12 điểm so với quý trước và 20 điểm so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo Nghị định 86/2024/NĐ-CP, tài sản bảo đảm là bất động sản nếu quá 2 năm kể từ khi các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền xử lý, sẽ không còn được khấu trừ khi tính dự phòng. Quy định này có thể làm gia tăng chi phí dự phòng, đặc biệt tại những ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 5 duy trì ở mức cao và kéo dài.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc dư nợ tăng nhanh, kéo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ xuống, đồng thời công tác xử lý nợ xấu được đẩy mạnh với tổng giá trị xử lý trong quý II đạt 37,1 nghìn tỷ đồng, tăng 36% so với quý trước. Tuy nhiên, sự cải thiện này tập trung ở nhóm ngân hàng lớn và vừa, còn một số ngân hàng nhỏ lại chứng kiến nợ xấu gia tăng, đặt ra những thách thức không nhỏ.

Một thách thức lớn nằm ở bộ đệm dự phòng khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành chỉ quanh 80%, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2021–2022. Sự phân hóa diễn ra rõ nét: các ngân hàng nhỏ có bộ đệm yếu, trong khi nhóm lớn lại tăng mạnh trích lập dự phòng nhờ lợi nhuận hoạt động khả quan

Bên cạnh đó, biên lãi ròng (NIM) cũng tiếp tục thu hẹp, xuống mức 3,18% trong quý II – thấp nhất kể từ năm 2018. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc lãi suất cho vay giảm 60 điểm cơ bản so với cuối 2024, theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, trong khi chi phí vốn lại tăng thêm 25 điểm cơ bản do các ngân hàng phải đẩy mạnh huy động kỳ hạn dài. Thêm vào đó, áp lực cạnh tranh từ các gói cho vay ưu đãi của khối quốc doanh buộc các ngân hàng thương mại cổ phần phải điều chỉnh giảm lãi suất, khiến biên lợi nhuận tiếp tục chịu sức ép.

Thu nhập ngoài lãi dẫn dắt lợi nhuận

Tuy nhiên, dù biên lãi ròng giảm, lợi nhuận toàn ngành vẫn được hỗ trợ bởi thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, tăng 26% so với cùng kỳ, trong khi thu nhập lãi thuần chỉ tăng 8,5%. Nguồn thu ngoài lãi chủ yếu đến từ xử lý nợ xấu – tăng gấp đôi nhờ bất động sản phục hồi, cùng với hoạt động mua bán chứng khoán tăng trưởng vượt trội. Ngược lại, các mảng dịch vụ cốt lõi như thu phí và kinh doanh ngoại hối chỉ tăng trưởng khiêm tốn, hạn chế đóng góp vào lợi nhuận chung.

Tín dụng toàn hệ thống bứt phá mạnh 9,9% nửa đầu 2025, nợ xấu giảm về mức thấp nhất 3 năm

Triển vọng nửa cuối năm cho thấy NIM có khả năng tạo đáy vào cuối 2025 khi tín dụng thường tăng tốc, từ đó cải thiện lợi suất cho vay. Tuy nhiên, áp lực huy động vốn dự kiến vẫn hiện hữu, đặc biệt với các ngân hàng quy mô nhỏ có nền CASA thấp và chi phí vốn tăng nhanh. Trong bối cảnh đó, thu nhập ngoài lãi tiếp tục được kỳ vọng là điểm tựa quan trọng, với xử lý nợ xấu vẫn là động lực lớn.

Hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng bùng nổ, đạt 193 nghìn tỷ đồng trong nửa đầu năm, gấp đôi cùng kỳ 2024, đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn. Lãi suất phát hành cao hơn nhẹ so với lãi suất tiền gửi 12 tháng, góp phần khiến chi phí vốn toàn ngành tăng thêm khoảng 25 điểm cơ bản.

Xét về nền tảng vốn, tỷ lệ vốn chủ sở hữu hữu hình trên tổng tài sản (TCE/TA) của khối quốc doanh và ngân hàng nhỏ gần như không đổi trong quý II, trong khi nhóm lớn và vừa giảm nhẹ do chi trả cổ tức tiền mặt. Để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn, nhiều ngân hàng lựa chọn phát hành trái phiếu để bổ sung vốn cấp 2, đồng thời ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu nhằm giữ lại nguồn lực cho tăng trưởng dài hạn.

Chỉ số CASA toàn ngành cũng phục hồi nhẹ sau khi giảm trong quý I, đạt trung bình 22% ở nhóm ngân hàng lớn, 15% ở nhóm vừa và chỉ 7,5% ở nhóm nhỏ. Khối quốc doanh tiếp tục duy trì lợi thế với CASA đạt 26,8%, giúp giảm chi phí vốn. Trái lại, nhóm nhỏ phải chịu áp lực chi phí vốn cao do CASA thấp.

Về cân đối huy động và tín dụng, đến cuối tháng 6, huy động tăng 10% trong khi tín dụng tăng 10,2%, cho thấy khoảng cách được rút ngắn nhờ phát hành giấy tờ có giá. Thanh khoản hệ thống nhìn chung ổn định, song vẫn xuất hiện căng thẳng cuối quý do nhu cầu giải ngân lớn và yếu tố ngân sách, khiến lãi suất liên ngân hàng qua đêm có lúc tăng vọt lên 8,75%. Trước tình hình này, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời bơm ròng quy mô lớn qua kênh OMO – mức cao nhất từ năm 2017 nhằm ổn định thị trường.

Dự báo cho nửa cuối năm, áp lực tăng lãi suất huy động sẽ còn lớn khi tín dụng tiếp tục tăng tốc và tỷ giá biến động khó lường, đồng nghĩa với không gian nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ thu hẹp. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng cần cân đối hài hòa giữa tăng trưởng tín dụng, quản trị rủi ro và tối ưu hóa cơ cấu vốn để vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh, vừa duy trì an toàn hệ thống.

Thu Hương

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 16,520
Kim TT/AVPL 16,220 16,520
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 16,520
Nguyên Liệu 99.99 15,240 15,440
Nguyên Liệu 99.9 15,190 15,390
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 16,420
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 16,370
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 16,350
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 165,200
Hà Nội - PNJ 162,200 165,200
Đà Nẵng - PNJ 162,200 165,200
Miền Tây - PNJ 162,200 165,200
Tây Nguyên - PNJ 162,200 165,200
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 165,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 16,520
Miếng SJC Nghệ An 16,220 16,520
Miếng SJC Thái Bình 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 16,520
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 16,520
NL 99.90 15,070
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120
Trang sức 99.9 15,710 16,410
Trang sức 99.99 15,720 16,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 16,522
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 16,523
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 1,647
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 1,648
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 1,652
Cập nhật: 12/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80