Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà:

Tốc độ giải ngân gói hỗ trợ lãi suất không phụ thuộc vào room tín dụng

Hoàng Yến
(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, tốc độ giải ngân gói hỗ trợ lãi suất 2% còn chậm, nhưng việc này không phụ thuộc vào room tín dụng còn hay hết mà còn phụ thuộc nhu cầu của khách hàng, vào việc thẩm định khách hàng, thẩm định hồ sơ, khẩu vị rủi ro của ngân hàng…
aa
Khai mạc Diễn đàn Kinh tế - Xã hội Việt Nam năm 2022: Tìm các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng, phát triển bền vững Giải phóng các nguồn lực làm động lực cho tăng trưởng Nhà nước sẽ thu hồi chênh lệch địa tô từ chuyển đổi mục đích sử dụng đất Bộ trưởng Hồ Đức Phớc: Nộp tiền vào ngân sách mới giao đất

Gói hỗ trợ lãi suất 40.000 tỷ đồng: Mới hỗ trợ được trên 13 tỷ đồng

Phát biểu trong phiên thảo luận bàn tròn tại Diễn đàn Kinh tế và xã hội Việt Nam 2022 về nội dung phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trong đó có chính sách hỗ trợ lãi suất 2%, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà cho biết, NHNN xác định điều hành chính sách tiền tệ năm 2022 nhằm đảm bảo mục tiêu quan trọng nhất là ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh diễn biến của kinh tế, tài chính toàn cầu rất phức tạp nhưng lãi suất và tỷ giá ở trong nước tương đối ổn định.

Về tín dụng, Phó Thống đốc cho hay, tín dụng của năm 2022 đã tăng rất nhanh ngay từ đầu năm so với cùng kỳ. Đến giữa tháng 9, tín dụng đã tăng trên 10% so với mục tiêu 14% của năm 2022. Qua theo dõi của NHNN, nguồn vốn đã vào tập trung các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực rủi ro tiếp tục được kiểm soát.

Phạm Thanh Hà
Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà

Xác định một trong những mục tiêu trọng tâm của năm 2022 là chương trình hỗ trợ lãi suất qua gói hỗ trợ 40.000 tỷ đồng, NHNN cũng đã triển khai sớm một loạt các biện pháp.

Trong đó, về hành lang pháp lý, NHNN đã phối hợp với các bộ và trình Chính phủ ban hành Nghị định 31 và cùng ngày, đã ban hành Thông tư 03 để hướng dẫn các ngân hàng thương mại triển khai đến các đối tượng vay vốn. Tiếp đó, NHNN cũng đã thu thập thông tin đăng ký từ các ngân hàng thương mại để đề xuất cùng với các bộ về phân bổ ngân sách 40.000 tỷ đồng trong 2 năm. Theo đó, năm 2022 dự kiến sẽ phân bổ khoảng 16.000 tỷ đồng, sang năm 2023 dự kiến sẽ phân bổ 24.000 tỷ đồng còn lại.

Một số ý kiến bình luận cho rằng, gói hỗ trợ này có thủ tục rườm rà, các quy định còn phức tạp, song Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà nêu rõ, đây là tiền ngân sách, các điều kiện thủ tục đã được thống nhất và khách hàng cũng phải tuân thủ để đảm bảo hồ sơ vay chặt chẽ, công bằng và minh bạch giữa các đối tượng.

Sau khi đã phân bổ ngân sách, NHNN cũng đã tiến hành triển khai, hướng dẫn các ngân hàng thương mại và đã ban hành bộ tài liệu giải đáp trên 20 vấn đề trong quá trình triển khai như về đối tượng, về phương thức, về cách đăng ký, về cách lập dự toán cũng như rút vốn hỗ trợ và quyết toán.

Đến nay, các ngân hàng thương mại đã triển khai gói hỗ trợ này trên thực tế, tuy nhiên kết quả còn khiêm tốn. Cụ thể dư nợ cho vay đến nay khoảng trên 4.400 tỷ đồng, với 550 khách hàng và số tiền lãi suất hỗ trợ là trên 13 tỷ đồng.

Giải thích thêm về con số này, Phó Thống đốc cho biết, hoạt động cho vay của hệ thống các ngân hàng thương mại vẫn diễn ra bình thường. Mặc dù Nghị định 31 và Thông tư 03 đã ban hành vào tháng 5 nhưng phạm vi hỗ trợ là từ ngày 1/1/2022, do đó theo đánh giá nhanh của NHNN, tổng số dư nợ có thể thuộc phạm vi của chương trình này khoảng 800 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, việc triển khai phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ví dụ như khách hàng dù thuộc đối tượng nhưng có nhu cầu hỗ trợ thì phải lập hồ sơ và có đề nghị, ngân hàng thương mại sẽ xem xét và phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật. “Điều này không phụ thuộc vào room tín dụng còn hay hết vì chuyện cho vay là hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng, ngoài hạn mức, yếu tố quan trọng là thẩm định khách hàng, thẩm định hồ sơ, khẩu vị rủi ro của ngân hàng…” - Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho hay.

Toàn cảnh
Toàn cảnh hội thảo

Có tâm lý e ngại từ ngân hàng cho vay

Cho rằng việc gói triển khai gói hỗ trợ chưa được như kỳ vọng, Phó Thống đốc NHNN nhấn mạnh còn có những khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết trong thời gian tới. Trong đó, NHNN đã xác định một số nhóm khó khăn, vướng mắc cần phải tập trung giải quyết.

Thứ nhất là về đối tượng được hỗ trợ lãi suất. Trường hợp khách hàng không phải hoạt động đơn ngành mà đa ngành, đa lĩnh vực mà một trong những lĩnh vực đó thuộc ưu tiên thì có được hỗ trợ hay không. Hay có nhiều hộ gia đình là khách hàng vay vốn của ngân hàng thương mại nhưng lại không đăng ký kinh doanh, khi đối chiếu thì chưa đủ điều kiện đối tượng của chương trình.

Thứ hai là tiêu chí đánh giá là khách hàng phải có khả năng, có phương án sản xuất kinh doanh, có khả năng phục hồi. NHNN cho rằng có sự khác biệt giữa sự đánh giá, thẩm định của ngân hàng thương mại, ngân hàng cho vay với đánh giá về sau này của các cơ quan kiểm tra, thanh tra hay kiểm toán về thế nào là khách hàng có khả năng phục hồi.

Bên cạnh đó, khi đánh giá tính khả thi của dự án là tính thời điểm thẩm định dự án và quyết định giải ngân. Nhưng trong quá trình kinh doanh có rất nhiều biến cố dẫn đến phương án ban đầu khả thi, khách hàng ban đầu có khả năng trả được nợ, sau đó gặp rủi ro dẫn đến khó khăn trong trả nợ, vậy lúc đó có được coi là có khả năng phục hồi hay không…, ông Phạm Thanh Hà nêu vấn đề.

Những khó khăn này đã được NHNN nhận diện được và đề nghị các bộ liên quan cùng thống nhất theo hướng, khách hàng sẽ tự xác định ngành nghề kinh doanh của mình và khẳng định khách hàng thuộc đối tượng được hỗ trợ lãi suất. Về đánh giá khả năng phục hồi, ngân hàng cho vay sẽ là người đánh giá chính và khẳng định được khách hàng có khả năng phục hồi hay không để thuộc đối tượng để hỗ trợ lãi suất.

Về vấn đề được nêu tại diễn đàn là có tâm lý e ngại từ phía ngân hàng cho vay, Phó Thống đốc NHNN giải thích là do trước đây, có một số gói hỗ trợ lãi suất đã triển khai và cũng có khó khăn nhất định trong chuyện giải ngân, đặc biệt là khâu quyết toán nên các ngân hàng cho vay có tâm lý e ngại.

Bên cạnh đó, còn có yếu tố tâm lý từ phía khách hàng. Dư nợ có thể được hỗ trợ khoảng 800 nghìn tỷ đồng nhưng thực tế đã triển khai khoảng 4.400 tỷ đồng, nên có khoảng cách nhất định giữa khả năng được hỗ trợ và thực tế. Điều này một phần phụ thuộc vào mong muốn của khách hàng có muốn hỗ trợ hay không.

Giải ngân thấp do doanh nghiệp khó đáp ứng được các điều kiện cho vay

Theo nhóm Tư vấn chính sách của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, việc tiếp cận nguồn vốn rẻ với chính sách hỗ trợ lãi suất 2% khá khó khăn do doanh nghiệp khó đáp ứng được các điều kiện cho vay. Có doanh nghiệp không được giải ngân vì không có tài sản thế chấp, trong khi ngân hàng kiên quyết không hạ chuẩn cho vay. Có hộ kinh doanh dịch vụ thu nhập thấp, song không thể tiếp cận chính sách hỗ trợ lãi suất 2%, vì lý do tỉnh đó chưa quy định mức thu nhập bao nhiêu là thấp. Hoặc một số hộ kinh doanh tuy là đối tượng thực sự khó khăn nhưng khó tiếp cận chính sách vay hỗ trợ lãi suất 2% do điều kiện phải có giấy phép đăng ký kinh doanh. Một nguyên nhân nữa khiến khách hàng vay vốn e ngại là tham gia chương trình hỗ trợ lãi suất sẽ phải làm việc với các đoàn thanh tra, kiểm toán, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (28/3): DXY vượt 100 điểm, tỷ giá USD tự do tăng vọt áp sát 28.000 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 28/3, theo cập nhật mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng phiên cuối tuần xuống 25.100 VND/USD, trong khi DXY tăng 0,26% lên 100,2 điểm. Ngược lại, tỷ giá USD tự do tăng mạnh 100 đồng, sát ngưỡng 28.000 đồng, phản ánh áp lực tỷ giá gia tăng trong bối cảnh USD tiếp tục mạnh lên toàn cầu.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Kim TT/AVPL 16,980 ▲110K 17,280 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Nguyên Liệu 99.99 16,000 ▲100K 16,200 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,950 ▲100K 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 ▲100K 17,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 ▲100K 17,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 ▲100K 17,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
NL 99.90 15,820 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▲50K
Trang sức 99.9 16,470 ▲120K 17,170 ▲120K
Trang sức 99.99 16,480 ▲120K 17,180 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 ▲12K 17,282 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 ▲12K 17,283 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 ▲12K 1,726 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 ▲12K 1,727 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 ▲12K 1,711 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 ▲1188K 169,406 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 ▲900K 128,488 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 ▼96033K 11,651 ▼104043K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 ▲732K 104,531 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 ▲699K 99,911 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 ▲501K 71,506 ▲501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cập nhật: 28/03/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/03/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80