Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng cho thấy những biến động rõ nét trong vòng 1 tháng qua, với 50% số ngân hàng tăng lãi suất chủ yếu ở kỳ hạn ngắn, mức tăng mạnh nhất là 0,65% ở kỳ hạn 3 tháng. "Sóng" tăng lãi suất này dự kiến sẽ được duy trì cho tới cuối năm.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024.

Thống kê từ Hiệp hội Ngân hàng cho thấy, trong 1 tháng qua, có 18/36 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, 6 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất, 3 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn.

Kỳ hạn ngắn tăng mạnh, cao nhất lên tới 0,65%

Theo khảo sát của phóng viên TBTCVN, mức tăng lãi suất huy động mạnh nhất phải kể đến SeABank với mức tăng 0,65% kỳ hạn 3 tháng tại quầy lên mức 4,1%/năm; tăng 0,55% kỳ hạn 6 tháng lên mức 4,3%/năm. Trong khi đó, kỳ hạn dài hơn như 12 tháng chỉ tăng 0,3%. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 5,45%/năm kỳ hạn 24 tháng tại quầy, với hình thức gửi có kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. Dù tăng cao lãi suất huy động đầu tháng 12, song mức lãi suất các kỳ hạn vẫn thấp hơn đáng kể các nhà băng khác, riêng lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng lọt top 3 các ngân hàng có lãi suất cao nhất.

Áp lực tăng lãi suất kỳ hạn dài

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024

Động thái siết chặt quy định về sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn từ Ngân hàng Nhà nước cũng khiến các ngân hàng phải cân nhắc kỹ hơn trong việc điều chỉnh lãi suất giữa các kỳ hạn. Trong khi lãi suất kỳ hạn ngắn có thể tạm thời ổn định, áp lực đối với lãi suất kỳ hạn dài dự kiến sẽ tăng, đặc biệt khi nhu cầu tín dụng tăng cao vào cuối năm và đầu năm sau. Bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ tài chính, Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn FiinGroup

Trong nhóm các ngân hàng quốc doanh, Agribank ghi nhận sự tăng cao lãi suất với 0,5% các kỳ hạn từ 1 - 9 tháng gửi lại quầy lên mức 2,2 - 3,5%/năm. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 4,8%/năm kỳ hạn 24 tháng tại quầy. Các ngân hàng còn lại hầu hết tăng nhẹ lãi suất với chỉ từ 0,1 - 0,3%/năm.

Bên cạnh đó, có 6 ngân hàng giảm nhẹ lãi suất với mức chỉ 0,1%/năm ở một số kỳ hạn, tại quầy và online gồm: BacABank, Indovina, BaoVietBank, NCB, Nam A Bank, ABBank. Ngoài ra, có 3 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn gồm: Indovina, BaoVietBank và NCB.

Cụ thể, ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/12 là 4,04%/năm được áp dụng tại DongABank, đứng thứ 2 là CBBank với mức lãi suất 3,85%/năm, tiếp đó là VietBank với lãi suất 3,8%/năm.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, mức lãi suất cao nhất thuộc về VPBank với lãi suất 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm.

Với tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng là kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024 là 5,47%/năm được áp dụng tại DongABank. Ngân hàng Oceanbank áp dụng mức lãi suất 5,3%/năm, mức cao thứ 2 hệ thống. Đứng top 3 là CBBank với lãi suất 5,45%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9 - 3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong trường hợp có khoản tiền chưa cần sử dụng trong thời gian dài, kỳ hạn 12 tháng có mức lãi suất lý tưởng nhất, được nhiều ngân hàng áp dụng thêm chính sách các ưu đãi khác. Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm. Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm.

Ngoài ra, tại một số nhà băng cũng đang áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt khi gửi số tiền "khủng" ở kỳ hạn 12 tháng tại quầy. Chẳng hạn như, với số tiền gửi trên 200 tỷ đồng, có 4 ngân hàng duy trì mức lãi suất trên 7%/năm gồm: HDBank là 7,7%/năm khi gửi trên 500 tỷ đồng; MSB là 7% với trên 500 tỷ đồng; DongABank 7,5% khi gửi trên 200 tỷ đồng; lãi suất PVCombank là 9,5% khi gửi trên 2.000 tỷ đồng.

Lý giải "sóng" tăng lãi suất

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về “sóng” tăng lãi suất tiết kiệm quay trở lại sau nhiều tháng tĩnh lặng, bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ tài chính, Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn FiinGroup cho biết, lãi suất huy động của các ngân hàng tăng lên từ nửa cuối tháng 11 và duy trì ở mức cao cho đến đầu tháng 12, đặc biệt là đối với các gói huy động ngắn hạn từ 12 tháng trở xuống.

"Cụ thể, lãi suất huy động trung bình cho các gói vay 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng đã tăng từ 7 - 9 điểm cơ bản trong khoảng thời gian từ ngày 3/10 đến ngày 3/12, phản ánh nhu cầu thu hút vốn vay của các ngân hàng trong giai đoạn cuối năm" - bà Oanh nêu rõ.

Cũng theo số liệu cập nhật đến cuối tháng 11 từ Công ty CP Chứng khoán MB (MBS), lãi suất 12 tháng trung bình của nhóm ngân hàng thương mại đạt mức 5%, cao hơn 14 điểm cơ bản so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất của các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn giữ nguyên ở mức 4,7%, thấp hơn 26 điểm cơ bản so với đầu năm.

Tiếp đà tăng lãi suất huy động sau hai tháng chững lại, MBS cũng cho rằng, xu hướng tăng này dự kiến sẽ được tiếp tục duy trì cho tới cuối năm nay trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang tăng nhanh hơn gần gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng của huy động vốn. "Điều này là một yếu tố góp phần thúc đẩy các ngân hàng tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút vốn mới, qua đó giúp đảm bảo thanh khoản" - nhóm phân tích từ MBS đánh giá.

Bà Trần Kiều Oanh cho rằng, có 2 yếu tố chính thúc đẩy các ngân hàng thương mại điều chỉnh lãi suất ngắn hạn. Thứ nhất là áp lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Cuối năm là thời điểm quan trọng để các ngân hàng hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Trong bối cảnh thiếu vốn, nhiều ngân hàng gia tăng thu hút dòng tiền gửi ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu tín dụng đang gia tăng. Thứ hai, chi phí vốn gia tăng. Sự gia tăng lãi suất cho vay liên ngân hàng tác động đến quyết định của các ngân hàng trong việc thu hút nguồn tiền gửi, nhằm giảm phụ thuộc vào vốn vay liên ngân hàng.

Sức ép đằng sau nhiều ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất huy động

Theo dự báo của MBS, lãi suất đầu vào sẽ tăng nhẹ 20 điểm cơ bản vào cuối năm, bởi sự phục hồi của tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm, sẽ phần nào gây áp lực lên thanh khoản hệ thống và có thể dẫn đến việc tăng lãi suất đầu vào. Ở chiều ngược lại, việc lạm phát ở mức thấp và FED hạ lãi suất được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

"Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ có thể nhích thêm 20 điểm cơ bản, dao động quanh mức 5,1 - 5,2% vào cuối năm 2024" - nhóm phân tích của MBS dự báo.

Mặc dù lãi suất huy động kỳ hạn ngắn tăng nhẹ trong giai đoạn cuối năm, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng vẫn duy trì ở mức thấp. Bà Trần Kiều Oanh cho rằng, các ngân hàng đang cố gắng kiểm soát chi phí vốn dài hạn.

Tuy nhiên, đây là một bài toán thách thức "kép" nhằm mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát chi phí vốn tại các ngân hàng. Việc lãi suất huy động tăng trong khi lãi suất cho vay vẫn được duy trì ở mức ưu đãi tác động không nhỏ đến biên lợi nhuận của các ngân hàng. Trong 9 tháng đầu năm 2024, biên lợi nhuận chỉ tăng trưởng nhẹ so với năm trước, trong khi tỷ lệ lợi nhuận tính theo năm (YTD change) gần như không thay đổi, chỉ đạt 0,04% trong nửa đầu năm và 0% vào cuối quý III/2024. Mức tăng trưởng thấp này phản ánh áp lực mà các ngân hàng đang phải đối mặt trong việc cân bằng giữa tăng trưởng và quản trị rủi ro.

Dù vậy, với các biện pháp hỗ trợ từ NHNN thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và sự linh hoạt trong chiến lược huy động vốn, các ngân hàng có thể duy trì cân bằng thanh khoản mà không gây áp lực lớn lên lãi suất cho vay, đảm bảo hỗ trợ cho doanh nghiệp và nền kinh tế trong giai đoạn phục hồi.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 17,250
Kim TT/AVPL 16,940 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,500 15,700
Nguyên Liệu 99.9 15,450 15,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 17,020
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 16,970
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 16,950
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 17,250
Miếng SJC Nghệ An 16,950 17,250
Miếng SJC Thái Bình 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 17,200
NL 99.90 15,500
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530
Trang sức 99.9 16,390 17,090
Trang sức 99.99 16,400 17,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 17,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 17,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 172
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 168,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 128,038
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 116,102
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 104,165
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 99,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 71,256
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cập nhật: 08/04/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80