Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng cho thấy những biến động rõ nét trong vòng 1 tháng qua, với 50% số ngân hàng tăng lãi suất chủ yếu ở kỳ hạn ngắn, mức tăng mạnh nhất là 0,65% ở kỳ hạn 3 tháng. "Sóng" tăng lãi suất này dự kiến sẽ được duy trì cho tới cuối năm.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024.

Thống kê từ Hiệp hội Ngân hàng cho thấy, trong 1 tháng qua, có 18/36 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, 6 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất, 3 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn.

Kỳ hạn ngắn tăng mạnh, cao nhất lên tới 0,65%

Theo khảo sát của phóng viên TBTCVN, mức tăng lãi suất huy động mạnh nhất phải kể đến SeABank với mức tăng 0,65% kỳ hạn 3 tháng tại quầy lên mức 4,1%/năm; tăng 0,55% kỳ hạn 6 tháng lên mức 4,3%/năm. Trong khi đó, kỳ hạn dài hơn như 12 tháng chỉ tăng 0,3%. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 5,45%/năm kỳ hạn 24 tháng tại quầy, với hình thức gửi có kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. Dù tăng cao lãi suất huy động đầu tháng 12, song mức lãi suất các kỳ hạn vẫn thấp hơn đáng kể các nhà băng khác, riêng lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng lọt top 3 các ngân hàng có lãi suất cao nhất.

Áp lực tăng lãi suất kỳ hạn dài

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024

Động thái siết chặt quy định về sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn từ Ngân hàng Nhà nước cũng khiến các ngân hàng phải cân nhắc kỹ hơn trong việc điều chỉnh lãi suất giữa các kỳ hạn. Trong khi lãi suất kỳ hạn ngắn có thể tạm thời ổn định, áp lực đối với lãi suất kỳ hạn dài dự kiến sẽ tăng, đặc biệt khi nhu cầu tín dụng tăng cao vào cuối năm và đầu năm sau. Bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ tài chính, Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn FiinGroup

Trong nhóm các ngân hàng quốc doanh, Agribank ghi nhận sự tăng cao lãi suất với 0,5% các kỳ hạn từ 1 - 9 tháng gửi lại quầy lên mức 2,2 - 3,5%/năm. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 4,8%/năm kỳ hạn 24 tháng tại quầy. Các ngân hàng còn lại hầu hết tăng nhẹ lãi suất với chỉ từ 0,1 - 0,3%/năm.

Bên cạnh đó, có 6 ngân hàng giảm nhẹ lãi suất với mức chỉ 0,1%/năm ở một số kỳ hạn, tại quầy và online gồm: BacABank, Indovina, BaoVietBank, NCB, Nam A Bank, ABBank. Ngoài ra, có 3 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn gồm: Indovina, BaoVietBank và NCB.

Cụ thể, ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/12 là 4,04%/năm được áp dụng tại DongABank, đứng thứ 2 là CBBank với mức lãi suất 3,85%/năm, tiếp đó là VietBank với lãi suất 3,8%/năm.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, mức lãi suất cao nhất thuộc về VPBank với lãi suất 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm.

Với tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng là kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 12/2024 là 5,47%/năm được áp dụng tại DongABank. Ngân hàng Oceanbank áp dụng mức lãi suất 5,3%/năm, mức cao thứ 2 hệ thống. Đứng top 3 là CBBank với lãi suất 5,45%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9 - 3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong trường hợp có khoản tiền chưa cần sử dụng trong thời gian dài, kỳ hạn 12 tháng có mức lãi suất lý tưởng nhất, được nhiều ngân hàng áp dụng thêm chính sách các ưu đãi khác. Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm. Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm.

Ngoài ra, tại một số nhà băng cũng đang áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt khi gửi số tiền "khủng" ở kỳ hạn 12 tháng tại quầy. Chẳng hạn như, với số tiền gửi trên 200 tỷ đồng, có 4 ngân hàng duy trì mức lãi suất trên 7%/năm gồm: HDBank là 7,7%/năm khi gửi trên 500 tỷ đồng; MSB là 7% với trên 500 tỷ đồng; DongABank 7,5% khi gửi trên 200 tỷ đồng; lãi suất PVCombank là 9,5% khi gửi trên 2.000 tỷ đồng.

Lý giải "sóng" tăng lãi suất

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về “sóng” tăng lãi suất tiết kiệm quay trở lại sau nhiều tháng tĩnh lặng, bà Trần Kiều Oanh - Trưởng phòng Dịch vụ tài chính, Khối Dịch vụ nghiên cứu thị trường và tư vấn FiinGroup cho biết, lãi suất huy động của các ngân hàng tăng lên từ nửa cuối tháng 11 và duy trì ở mức cao cho đến đầu tháng 12, đặc biệt là đối với các gói huy động ngắn hạn từ 12 tháng trở xuống.

"Cụ thể, lãi suất huy động trung bình cho các gói vay 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng đã tăng từ 7 - 9 điểm cơ bản trong khoảng thời gian từ ngày 3/10 đến ngày 3/12, phản ánh nhu cầu thu hút vốn vay của các ngân hàng trong giai đoạn cuối năm" - bà Oanh nêu rõ.

Cũng theo số liệu cập nhật đến cuối tháng 11 từ Công ty CP Chứng khoán MB (MBS), lãi suất 12 tháng trung bình của nhóm ngân hàng thương mại đạt mức 5%, cao hơn 14 điểm cơ bản so với đầu năm. Trong khi đó, lãi suất của các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn giữ nguyên ở mức 4,7%, thấp hơn 26 điểm cơ bản so với đầu năm.

Tiếp đà tăng lãi suất huy động sau hai tháng chững lại, MBS cũng cho rằng, xu hướng tăng này dự kiến sẽ được tiếp tục duy trì cho tới cuối năm nay trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang tăng nhanh hơn gần gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng của huy động vốn. "Điều này là một yếu tố góp phần thúc đẩy các ngân hàng tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút vốn mới, qua đó giúp đảm bảo thanh khoản" - nhóm phân tích từ MBS đánh giá.

Bà Trần Kiều Oanh cho rằng, có 2 yếu tố chính thúc đẩy các ngân hàng thương mại điều chỉnh lãi suất ngắn hạn. Thứ nhất là áp lực hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Cuối năm là thời điểm quan trọng để các ngân hàng hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Trong bối cảnh thiếu vốn, nhiều ngân hàng gia tăng thu hút dòng tiền gửi ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu tín dụng đang gia tăng. Thứ hai, chi phí vốn gia tăng. Sự gia tăng lãi suất cho vay liên ngân hàng tác động đến quyết định của các ngân hàng trong việc thu hút nguồn tiền gửi, nhằm giảm phụ thuộc vào vốn vay liên ngân hàng.

Sức ép đằng sau nhiều ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất huy động

Theo dự báo của MBS, lãi suất đầu vào sẽ tăng nhẹ 20 điểm cơ bản vào cuối năm, bởi sự phục hồi của tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh sản xuất và đầu tư tăng tốc mạnh hơn trong những tháng cuối năm, sẽ phần nào gây áp lực lên thanh khoản hệ thống và có thể dẫn đến việc tăng lãi suất đầu vào. Ở chiều ngược lại, việc lạm phát ở mức thấp và FED hạ lãi suất được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại Việt Nam.

"Dựa vào các yếu tố trên, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ có thể nhích thêm 20 điểm cơ bản, dao động quanh mức 5,1 - 5,2% vào cuối năm 2024" - nhóm phân tích của MBS dự báo.

Mặc dù lãi suất huy động kỳ hạn ngắn tăng nhẹ trong giai đoạn cuối năm, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng vẫn duy trì ở mức thấp. Bà Trần Kiều Oanh cho rằng, các ngân hàng đang cố gắng kiểm soát chi phí vốn dài hạn.

Tuy nhiên, đây là một bài toán thách thức "kép" nhằm mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát chi phí vốn tại các ngân hàng. Việc lãi suất huy động tăng trong khi lãi suất cho vay vẫn được duy trì ở mức ưu đãi tác động không nhỏ đến biên lợi nhuận của các ngân hàng. Trong 9 tháng đầu năm 2024, biên lợi nhuận chỉ tăng trưởng nhẹ so với năm trước, trong khi tỷ lệ lợi nhuận tính theo năm (YTD change) gần như không thay đổi, chỉ đạt 0,04% trong nửa đầu năm và 0% vào cuối quý III/2024. Mức tăng trưởng thấp này phản ánh áp lực mà các ngân hàng đang phải đối mặt trong việc cân bằng giữa tăng trưởng và quản trị rủi ro.

Dù vậy, với các biện pháp hỗ trợ từ NHNN thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và sự linh hoạt trong chiến lược huy động vốn, các ngân hàng có thể duy trì cân bằng thanh khoản mà không gây áp lực lớn lên lãi suất cho vay, đảm bảo hỗ trợ cho doanh nghiệp và nền kinh tế trong giai đoạn phục hồi.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái  xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

(TBTCO) - VietinBank chính thức triển khai hợp tác chiến lược 3 bên cùng Công ty Cổ phần Văn hóa Ngôi Nhà Xanh (GreenHouse) - đơn vị vận hành nền tảng và Ingrid International Pte. Ltd (Ingrid International) - đơn vị tư vấn chiến lược, phát triển hệ sinh thái, hướng tới xây dựng hệ sinh thái xanh AI & thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam.
FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30