Thị trường tiền tệ tuần 20-24.11:

Vẫn “nóng” câu chuyện vốn cho bất động sản, giá vàng lại tăng

Chí Tín
(TBTCO) - Các câu chuyện về vốn cho thị trường bất động sản vẫn là đề tài sôi động liên quan đến lĩnh vực ngân hàng trong tuần vừa qua. Trong khi đó, thị trường vàng cả quốc tế và trong nước lại chứng kiến một nhịp tăng mới.
aa

Tín dụng bất động sản vẫn thu hút mối quan tâm

Trong tuần qua, Hiệp hội kinh doanh Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA) tiếp tục gửi các ý kiến kiến nghị đề xuất liên quan đến chính sách tín dụng cho thị trường bất động sản.

Trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), HoREA đề nghị NHNN xem xét “mở rộng hơn” một số đối tượng được vay gói tín dụng 120.000 tỷ đồng, bao gồm chủ đầu tư và người mua nhà thuộc các dự án nhà ở thương mại có giá bán không vượt quá 3 tỷ đồng/căn và có ưu tiên cho “người mua căn nhà đầu tiên”.

Vẫn “nóng” câu chuyện vốn cho bất động sản, giá vàng lại tăng
Doanh nghiệp bất động sản vẫn tỏ ra "khát" vốn. Ảnh: T.L
Lãi suất tín phiếu tăng, giá vàng thế giới vẫn giảm
Vốn dồi dào, nhưng "khe cửa" cho vay bất động sản vẫn hẹp

Ngoài ra, HoREA cũng đề cập về quy định liên quan đến tỷ lệ vốn ngắn hạn tối đa dùng để cho vay trung và dài hạn khi cho biết, kể từ năm 2024 trở đi khi nền kinh tế có thể phát triển mạnh mẽ trở lại. Khi đó quy định các tổ chức tín dụng chỉ được sử dụng tối đa không quá 30% nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung hạn, dài hạn sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động ngắn hạn.

Nợ xấu bất động sản đang có xu hướng tăng

Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu tín dụng bất động sản đến tháng 9/2023 đã tăng lên 2,89%, so với mức chỉ 1,72% hối cuối năm 2022. Tín dụng phục vụ mục đích tiêu dùng, tự sử dụng giảm trong khi đó tín dụng kinh doanh bất động sản tăng rất cao, đây là điểm cần chú ý khi cầu tín dụng để mua bất động sản có xu hướng đi xuống, phần nào phản ánh sức mua của thị trường đang giảm so với thời điểm trước.

Cũng trong tuần qua, Văn phòng Chính phủ cũng đã có văn bản gửi NHNN và Bộ xây dựng về chính sách phát triển nhà ở xã hội.

Theo công văn này, NHNN phải chủ trì, phối hợp Bộ Xây dựng khẩn trương báo cáo về kết quả triển khai thực hiện Chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Về diễn biến tín dụng cho thị trường bất động sản thời gian qua, NHNN cho biết, đến 30/9/2023, tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của các tổ chức tín dụng đạt 2,74 triệu tỷ đồng, tăng 6,04% so với 31/12/2022, chiếm tỷ trọng 21,46% tổng dư nợ đối với nền kinh tế.

Trong đó tín dụng bất động sản tập trung vào mục đích tiêu dùng/tự sử dụng chiếm 64% và dư nợ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng 36% dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản.

Tỷ giá tăng nhẹ cuối tuần

Diễn biến tuần qua cho thấy, tỷ giá đồng Việt Nam so với Đô la Mỹ giảm vào giữa tuần, nhưng sau đó lại quay đầu tăng nhẹ vào cuối tuần. Tỷ giá trung tâm do NHNN công bố hôm thứ hai đầu tuần ghi nhận mức 23.954 đồng/USD, sau đó giảm liên tiếp trong 2 ngày trước khi tăng vào hôm thứ năm và thứ sau. Chốt phiên cuối tuần, tỷ giá USD là 23.927 đồng/USD, giảm 27 đồng so với hôm đầu tuần.

Trong khi đó, tỷ giá USD tại Vietcombank mở đầu tuần ở mức bán ra là 24.345 đồng/USD, sau khi giảm vào giữa tuần và tăng trở lại vào cuối tuần, tỷ giá USD tại Vietcombank hôm thứ sáu là 24.420 đồng/USD, tăng 75 đồng mỗi Đô la so với đầu tuần.

Mặc dù tỷ giá có một số biến động nhẹ trong tuần, nhưng các chuyên gia cho rằng bối cảnh tỷ giá hiện đang ở trạng thái khá thuận lợi do yếu tố nguồn cung khá tốt. TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, giai đoạn cuối năm thị trường có thể đón nhận nguồn cung USD từ kiều hối. Đồng thời, nguồn giải ngân vốn FDI cũng sẽ giúp gia tăng nguồn cung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ổn định tỷ giá.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ tương quan với 6 loại tiền tệ khác hiện chỉ ở mức khoảng 103 điểm, là mức khá thấp so với thời điểm có lúc chỉ số này tăng lên sát 107 điểm giai đoạn tháng 10. Đây cũng là yếu tố hỗ trợ củng cố niềm tin về diễn biến tỷ giá của đồng Việt Nam so với Đô la Mỹ có thể giữ nhịp ổn định trong giai đoạn tới.

Vẫn “nóng” câu chuyện vốn cho bất động sản, giá vàng lại tăng
Giá vàng lại bước vào giai đoạn tăng. Ảnh: T.L

Giá vàng trở lại nhịp tăng

Sau một nhịp điều chỉnh giai đoạn đầu tháng 11, giá vàng trở lại chu kỳ tăng điểm trong tuần qua. Đầu tuần, giá vàng thế giới ghi nhận ở mức khoảng 1.981,6 USD/ounce và sau đó tăng sát mốc 2.000 USD/ounce vào giữa tuần.

Khảo sát vàng hằng tuần hôm đầu tuần của Kitco News cho thấy, hầu hết các nhà đầu tư cá nhân (Main Street - Phố Chính) cho rằng, giá vàng sẽ tiếp tục leo dốc, trong khi đội ngũ nhà đầu tư lớn (Wall Street - Phố Wall) đã chuyển sang quan điểm trung lập về triển vọng ngắn hạn của kim loại quý. Giá vàng thế giới cuối tuần có sự điều chỉnh chút ít nhưng vẫn ở mặt bằng khá cao với 1.993 USD/ounce.

Trong nước, giá vàng SJC 9999 hôm đầu tuần bán ra ở mức 70,77 triệu đồng/lượng, và sau đó tiếp tục dao động với xu hướng đi lên. Chiều hôm 24/11, giá vàng SJC 9999 bán ra ở mức 71,8 triệu đồng/lượng, theo đó đã tăng tới 1,03 triệu đồng/lượng so với hôm đầu tuần.

Kỳ vọng việc FED dừng các đợt tăng lãi suất

Vừa qua, hàng loạt chỉ số quan trọng của Mỹ được công bố như chỉ số giá tiêu dùng CPI, chỉ số sản xuất công nghiệp PPI tháng 10 đều thấp hơn so với dự đoán trước đó. Điều này khiến các nhà đầu tư kỳ vọng về kịch bản Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ sớm dừng tăng lãi suất trong tháng 12/2023 và có đợt cắt giảm lãi suất sớm nhất vào quý II/2024.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi ngang, trong đó vàng nhẫn được niêm yết cao nhất ở mức 150 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 103 USD/ounce trong vòng 24 giờ, lên 4.472,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng giảm trái chiều, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi xuống, trong đó vàng nhẫn giảm tới 700.000 đồng/lượng, vàng miếng giảm tối đa 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 00:30
Ngân hàng