Thị trường tiền tệ tuần 2-6.10:

Lãi suất tín phiếu tăng, giá vàng thế giới vẫn giảm

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục thực hiện các đợt phát hành tín phiếu trên thị trường mở, đáng chú ý là lãi suất đang nhích tăng so với các đợt phát hành trước. Giá vàng thế giới vẫn tiếp đà giảm, nhưng vàng trong nước vẫn vững giá.
aa

Lãi suất tín phiếu tăng

Sau 2 tuần liên tiếp thực hiện nhiều đợt phát hành tín phiếu quy mô lớn thông qua thị trường mở, tuần này NHNN vẫn tiếp tục thực hiện đợt phát hành tín phiếu, nhưng lãi suất đang nhích tăng dần so với trước.

Trong phiên đấu thầu cuối cùng trong tuần diễn ra ngày 6/10, NHNH thực hiện phát hành gần 10 nghìn tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 28 ngày, lãi suất trúng thấu là 1,28%. Trước đó, trong các ngày 4 và 5/10, NHNN cũng có các đợt phát hành tín phiếu với quy mô mỗi đợt là khoảng 10 nghìn tỷ đồng, lãi suất 1,3%.

Lãi suất trúng thầu tín phiếu những phiên gần đây đã tăng hơn so với trước. Cụ thể, trong giai đoạn 2 tuần cuối tháng 9, NHNN cũng đã thực hiện nhiều đợt đấu thầu tín phiếu với tổng quy mô 110 nghìn tỷ đồng. Tín phiếu phát hành trong giai đoạn này đều có thời hạn 28 ngày. Lãi suất trúng thầu thời điểm đó chỉ trong khoảng từ 0,49 - 0,7%/năm. Lãi suất tín phiếu có xu hướng tăng hơn từ đầu tháng 10, ghi nhận mức 1% trong phiên đầu tuần ngày 2/10, sau đó tăng lên 1,18%/năm trong ngày tiếp theo ngày 3/10.

Lãi suất tín phiếu tăng, giá vàng thế giới vẫn giảm
Tỷ giá chỉ tăng nhẹ trong tuần vừa qua. Ảnh: T.L
Lãi suất liên ngân hàng giảm, giá vàng dõi theo tín hiệu từ FED Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, giá vàng thế giới tiếp tục giảm

Ông Nguyễn Minh Tuấn - CEO Công ty AFA Capital cho biết, mục tiêu phát hành tín phiếu của NHNN trên thị trường mở thông thường nhằm điều tiết lãi suất thị trường liên ngân hàng. Đồng thời, việc phát hành tín phiếu cũng có tác dụng rút bớt tiền từ các ngân hàng thương mại về NHNN. Hiện nay, bối cảnh chung cho thấy dòng tiền đang đang khá dồi dào trong hệ thống ngân hàng, nhưng lại chưa chảy được ra “đồng ruộng” là nền kinh tế.

Tiếp tục các đợt khơi thông vốn tín dụng

Cùng với các động thái liên tục hút bớt tiền từ ngân hàng thương mại về NHNN, ngành ngân hàng cũng đang tiếp tục nỗ lực khơi thông dòng tiền đi vào hoạt động kinh doanh thông qua các hoạt động tiếp tục ngân hàng doanh nghiệp. Tuần qua, NHNN và các ngân hàng thương mại đã tiếp tục xúc tiến tín dụng tại Thái Nguyên.

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tính đến ngày 30/9/2023 dư nợ cho vay đạt khoảng 86,6 nghìn tỷ đồng, tăng 4,51% so với 31/12/2022.

Ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc NHNN:

Ngành ngân hàng luôn mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các hiệp hội, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên về tình hình kinh doanh, nhu cầu và tiếp cận tín dụng. Ngoài ra, bản thân tổ chức tín dụng cũng trao đổi những khó khăn của mình để cùng đánh giá đề xuất các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng những tháng cuối năm, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

NHNN cho biết, một số ngành, lĩnh vực tăng trưởng cao như: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,55%, hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 14,45%, dịch vụ lưu trú ăn uống tăng 14,31%. Dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp FDI tăng 30,98%, doanh nghiệp nhà nước tăng 7,36%.

Tuy nhiên, tình hình tín dụng trên địa bàn của một số ngành có xu hướng giảm: Tín dụng ngành nông lâm, thủy sản giảm 0,29% so với cuối năm 2022. Tín dụng ngành khai khoáng giảm 5,54%; sửa chữa mô tô, ô tô, xe máy và xe có động cơ khác giảm 1,09%. Tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên có sự sụt giảm, trong đó dư nợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giảm 10,23%, doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm 6,28%.

Tỷ giá tăng nhẹ

Tuần qua tỷ giá diễn biến tăng, nhưng mức tăng nhẹ. Hôm đầu tuần, tỷ giá USD trung tâm được niêm yết ở mức 24.059 đồng/USD, sau đó giữ ổn định trong 1 phiên và tăng 2 phiên sau đó, trước khi đảo chiều giảm nhẹ vào cuối tuần. Tỷ giá trung tâm ghi nhận hôm 6/10 ở mức 24.084 đồng/USD, cao hơn 25 đồng mỗi Đô la so với đầu tuần.

Diễn biến tỷ giá trong tháng 9

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá Đô la Mỹ của riêng tháng 9/2023 tăng 1,53% so với tháng trước. Theo đó, tính chung đến cuối tháng 9 thì chỉ số Đô la Mỹ tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá đồng Đô la Mỹ tại Vietcombank mở đầu tuần mới ở mức 24.490 đồng/USD, sau đó có 2 phiên tăng vào thứ ba và thứ tư nhưng sau đó giảm vào thứ năm. Tại thời điểm hôm thứ sáu cuối tuần, Vietcombank công bố ở mức bán ra là 24.560 đồng/USD, cao hơn 70 đồng mỗi Đô la so với đầu tuần.

Mặc dù tỷ giá biến động không lớn trong tuần vừa qua, nhưng thời điểm hiện tại cũng là giai đoạn giới kinh doanh đặt mối quan tâm khá lớn với tỷ giá do hiện tại đang bước vào những tháng cuối năm, nhu cầu ngoại tệ có thể tăng.

Lãi suất tín phiếu tăng, giá vàng thế giới vẫn giảm
Giá vàng thế giới vẫn trong xu hướng giảm ngắn hạn. Ảnh: T.L

Giá vàng thế giới vẫn trên đà giảm

Giá vàng thế giới tuần qua vẫn trong đà giảm, nhưng giá vàng trong nước vẫn trụ vững không bị giảm theo xu hướng của giá thế giới.

Đầu tuần mới, giá vàng thế giới giao dịch tại mức 1.845 USD/ounce giảm 4 USD so với hôm thứ bảy tuần trước. Sau đó, giá vàng thế giới giảm liên tục trong các ngày tiếp theo, xuống chỉ còn 1.821 USD/ounce vào hôm thứ sáu ngày 6/10 theo giờ Việt Nam. So với 1 tuần trước đó, giá vàng thế giới đã giảm thêm 45 USD mỗi ounce.

Kể từ sau cuộc họp chính sách tiền tệ gần đây nhất, lập trường chính sách mạnh mẽ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) rằng lãi suất sẽ giữ cao hơn trong thời gian dài liên tiếp gây thiệt hại cho vàng. Mặc dù vậy, trong giới chuyên gia vẫn có ý kiến lạc quan rằng, bất chấp sự suy yếu trong ngắn hạn, giá vẫn có thể tăng trên 2.000 USD/ounce vào năm tới và cao hơn cho đến năm 2025.

Trong xu hướng giá thế giới giảm, giá vàng trong nước vẫn giữ vững. Vàng miếng 9999 mở đầu tuần ở mức 68,3 triệu đồng/lượng mua vào và 69 triệu đồng/lượng bán ra và kết thúc tuần ở mức 68,45 triệu đồng/lượng mua vào và 69,15 triệu đồng/lượng bán ra, cao hơn khoảng 300 nghìn đồng mỗi lượng so với 1 tuần trước./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh 43 USD/ounce lên 4.123,3 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1,4 triệu đồng/lượng.
Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

Mở rộng điều tra vụ buôn lậu kim cương liên quan SJC, khởi tố thêm 4 bị can

(TBTCO) - Mở rộng điều tra Chuyên án 268V, Công an tỉnh Thanh Hóa khởi tố thêm 4 bị can, thu giữ thêm 354 viên kim cương và tiếp tục làm rõ đường dây buôn lậu đưa kim cương vào hệ thống SJC để tiêu thụ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Khép tuần giao dịch, giá vàng thế giới giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 18/7: Vàng thế giới giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giữ trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại. Tuy vậy, mức tăng không lớn và không đồng đều giữa chiều mua - bán.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,240 ▲50K 13,940 ▲50K
Trang sức 99.99 13,250 ▲50K 13,950 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,355 ▲1220K 14,052 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,355 ▲1220K 14,053 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 ▲1K 1,401 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 132 ▲1K 138 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 ▲990K 136,634 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 ▲75K 10,366 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 ▲680K 93,999 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 ▲610K 84,338 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 ▲583K 80,612 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 ▲417K 57,702 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,365 ▲1230K 1,415 ▲1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Cập nhật: 24/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17867 18141 18728
CAD 18165 18441 19058
CHF 31589 31969 32609
CNY 0 3846 3939
EUR 29350 29571 30652
GBP 34247 34638 35576
HKD 0 3226 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14919 15507
SGD 19851 20133 20704
THB 697 760 814
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80