Vướng mắc khiến chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hình sự về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội

Hà My
(TBTCO) - Trong văn bản trả lời kiến nghị của cử tri TP. Hồ Chí Minh liên quan tới trường hợp doanh nghiệp trốn đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, đến nay, chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hình sự về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những vướng mắc về cơ chế chính sách cũng như thực tiễn thực hiện.
aa

Dù tỷ lệ giảm nhưng tình trạng chậm đóng vẫn tiếp diễn

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho biết, những năm qua, ngành BHXH đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đôn đốc thu hồi số tiền chậm đóng BXHH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).

Cụ thể như: điều tra, khảo sát, nắm bắt, phân loại để có các giải pháp phù hợp với từng đơn vị; tuyên truyền, đối thoại, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính, công khai danh tính đến cơ quan công an; kiến nghị điều tra, khởi tố theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015…

Vướng mắc khiến chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hình sự về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội
Thanh tra chuyên ngành BHXH làm việc với đơn vị. Ảnh: BHXHVN

Do đó, tỷ lệ số tiền chậm đóng BHXH so với số phải thu giảm dần qua từng năm. Cụ thể, nếu như năm 2016 tỷ lệ này là 3,75% thì đến hết năm 2022 giảm xuống còn 2,91%, thấp nhất từ trước đến nay.

Bên cạnh đó, ngành BHXH còn tổ chức thanh tra chuyên ngành, phối hợp thanh tra, kiểm tra liên ngành về đóng, xử phạt vi phạm hành chính và lập hồ sơ kiến nghị khởi tố đối với các hành vi vi phạm có dấu hiệu hình sự về BHXH, BHYT, BHTN.

Trong năm 2023, cơ quan BHXH đã phối hợp với Bộ Công an thực hiện kiểm tra liên ngành việc chấp hành pháp luật về đóng bảo hiểm trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu với mục tiêu phát hiện đơn vị có dấu hiệu chậm đóng, trốn đóng, lập hồ sơ làm căn cứ xử lý vi phạm…

Thống kê cho thấy, giai đoạn 2016-15/11/2023, ngành BHXH đã ban hành hơn 4.252 quyết định xử phạt vi phạm hành chính về đóng BHXH, BHYT, BHTN, với số tiền xử phạt là 217,9 tỷ đồng. Giai đoạn từ 2018 (Bộ luật Hình sự có hiệu lực) đến tháng 10/2023, cơ quan BHXH đã lập, gửi 378 hồ sơ kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện điều tra, khởi tố hành vi có dấu hiệu tội phạm quy định tại Điều 216 Bộ luật Hình sự.

Mặc dù vậy, đến nay tình trạng chậm đóng, trốn đóng BHXH vẫn xảy ra, ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động. Theo BHXH Việt Nam, điều này do một số nguyên nhân chính như: Ý thức chấp hành chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội của nhiều chủ sử dụng lao động còn chưa nghiêm. Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, do thiên tai, dịch bệnh, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu...

Chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hình sự vì trốn đóng bảo hiểm

BHXH Việt Nam cho biết, đến nay, vẫn chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hình sự về hành vi trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do xuất phát từ những vướng mắc về cơ chế chính sách cũng như thực tiễn thực hiện.

Về nguyên nhân từ quan điểm áp dụng pháp luật, Điều 216 Bộ luật Hình sự quy định, hành vi cấu thành tội trốn đóng là hành vi “Không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định” và “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định để xử lý hình sự thì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng hành vi đã bị xử phạt là hành vi “không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định”.

Quan điểm khác lại xác định hành vi đã bị xử phạt phải là hành vi “trốn đóng” và việc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn đóng là một trong những điều kiện để khởi tố đối với tội danh này.

Vướng mắc khiến chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hình sự về hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội
Dự thảo Luật BHXH đề xuất ngừng sử dụng hóa đơn đối với đơn vị không đóng, hoặc đóng không đủ số tiền BHXH bắt buộc phải đóng từ 6 tháng trở lên. Ảnh minh họa

Với nguyên nhân từ vướng mắc trong việc xác định hành vi vi phạm, cơ quan BHXH đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định hành vi trốn đóng để xử phạt vi phạm hành chính. Mặc dù, việc xử phạt hành chính đối với hành vi trốn đóng đã được quy định tại Điểm a khoản 7 Điều 39 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP và khoản 2 Điều 80 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP nhưng không có văn bản nào quy định rõ khái niệm thế nào là “trốn đóng”. Do vậy không có cơ sở xác định yếu tố lỗi để xử phạt hành chính về hành vi “trốn đóng” làm cơ sở, tiền đề cho việc xử lý hình sự.

Thực tế cho thấy, hiện nay trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính cơ quan BHXH chỉ có thể xác định là không đóng, hoặc đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH, BHYT, BHTN và đóng không đúng mức đóng quy định…, mà không đủ công cụ, phương pháp để xác định được các hành vi đó là trốn đóng, hay không phải trốn đóng. Đồng thời, cũng không chứng minh được người có nghĩa vụ đóng cố ý và có hành vi gian dối và bằng thủ đoạn.

Bên cạnh đó, một trong những vướng mắc khiến chưa có doanh nghiệp nào bị xử lý hình sự về hành vi trốn đóng BHXH là do vướng mắc từ chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ràng buộc của việc xử lý hình sự đối với hành vi trốn đóng là việc đã bị xử lý hành chính mà còn tiếp tục vi phạm.

Trong xử lý hành chính về đóng BHXH, BHYT, BHTN, chủ thể bị xử lý là người sử dụng lao động, hầu hết là pháp nhân (rất ít người sử dụng lao động là cá nhân). Trong khi đó, hiện tại chưa có quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính về đóng BHXH, BHYT đối với người quản lý, điều hành, người đại diện theo pháp luật của đơn vị sử dụng lao động. Vì vậy, nếu xử lý hình sự theo Điều 216 phải xử lý với pháp nhân.

Dự thảo Luật BHXH sửa đổi đã bổ sung một số nội dung, quy định rõ hành vi chậm đóng, trốn đóng, gia tăng hình phạt đối với người sử dụng lao động chậm đóng, trốn đóng BHXH như phạt tiền theo ngày. Trường hợp đã áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính mà vẫn không đóng, hoặc đóng không đủ số tiền BHXH bắt buộc phải đóng từ 6 tháng trở lên, thì ngừng sử dụng hóa đơn, từ 12 tháng trở lên hoãn xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật,...
Hà My

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80