Xử lý nợ xấu còn nhiều thách thức

Chí Tín
(TBTCO) - Hầu hết các ngân hàng đều đã công bố báo cáo tài chính bán niên 2022 và các thông tin tài chính chung cho thấy, nợ xấu của các ngân hàng vẫn nằm trong tầm kiểm soát, tính thời điểm giữa năm 2022. Tuy vậy, bối cảnh hiện nay vẫn còn những yếu tố cho thấy rủi ro nợ xấu còn “treo lơ lửng”, theo đó, Ngân hàng Nhà nước cũng phát đi thông điệp nhắc nhở các ngân hàng cần cảnh giác với vấn đề này.
aa

Tỷ lệ nợ xấu yên ổn ở nhiều ngân hàng

Số liệu tài chính ở nhiều ngân hàng sau nửa đầu năm 2022 cho thấy, bức tranh nợ xấu thể hiện trên bảng cân đối kế toán vẫn được các ngân hàng kiểm soát khá tốt.

Cụ thể, báo cáo tài chính riêng lẻ của ngân hàng mẹ Ngân hàng TMCP Công thương (VietinBank) ghi nhận dư nợ cho vay khách hàng tại thời điểm giữa năm 2022 là 1.228 nghìn tỷ đồng, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng là 31,4 nghìn tỷ đồng, ghi nhận tỷ lệ gần 2,6%. Trong khi đó, "đại gia" ngành ngân hàng khác là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho thấy, giá trị cho vay khách hàng tại thời điểm 30/6/2022 là 1.469 nghìn tỷ đồng, dự phòng rủi ro cho vay khách hàng là 38,8 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ phải trích lập dự phòng theo đó cũng xấp xỉ của Vietinbank với 2,6%. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu mà các ngân hàng này phải trích lập dự phòng của thời kỳ nửa đầu năm 2022 vẫn giữ trong giới hạn cho phép mà Ngân hàng Nhà nước quy định (dưới 3%).

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.  Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đồ họa: Văn Chung

Với các ngân hàng cổ phần, nhiều ngân hàng cũng vẫn duy trì được tỷ lệ nợ xấu ở mức trong giới hạn cho phép. Cụ thể, số liệu tài chính của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) ghi nhận tỷ lệ cho vay khách hàng là 222 nghìn tỷ đồng, nợ xấu phải trích lập là 2,9 nghìn tỷ đồng (ghi nhận tỷ lệ 1,3%), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TP Bank) có dư nợ cho vay khách hàng là 151 nghìn tỷ đồng, trích lập 2 nghìn tỷ đồng (tỷ lệ 1,3%)… Một số ngân hàng cổ phần khác cũng có tỷ lệ nợ xấu chỉ dưới 2%, như Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) có dư nợ cho vay khách hàng là 391 nghìn tỷ đồng, dự phòng 5,4 nghìn tỷ đồng (tỷ lệ 1,4%), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) có dư nợ 406 nghìn tỷ đồng, dự phòng 6,3 nghìn tỷ đồng (tỷ lệ 1,6%)… (Riêng Sacombank đang thực hiện việc trích lập theo chế độ đặc thù theo Đề án tái cơ cấu đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Trong đó, dự phòng rủi ro tín dụng theo năng lực tài chính trong thời gian thực hiện đề án tái cơ cấu).

Thông điệp cảnh giác với nợ xấu

Mặc dù số liệu tài chính nửa đầu năm 2022 cho thấy, nhìn chung các ngân hàng vẫn tỷ lệ nợ xấu trong giới hạn, nhưng một số nhà chuyên môn cho rằng, các ngân hàng sẽ vẫn rất cần cẩn trọng đề phòng với nợ xấu trong thời gian tới.

Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện giãn, hoãn nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19 theo Thông tư 14/2021/TT-NHNN (sửa đổi các Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN) đã chấm dứt từ cuối tháng 6/2022. Theo đó giai đoạn từ 30/6/2022 trở đi, khả năng nhiều khoản nợ trong đối tượng được giãn, hoãn nợ theo Thông tư 14 trước đây nếu khách hàng vẫn khó khăn không trả nợ thì sẽ bị chuyển nợ xấu. Trước bối cảnh này, ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, các tổ chức tín dụng cũng nên nhìn nhận và đánh giá lại các nhóm khách hàng của mình, có giải pháp hỗ trợ phù hợp.

Bám theo các nội dung Nghị quyết 42, chú ý đến các vấn đề thường gây khúc mắc

Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng lẽ ra hết hiệu lực từ 15/8/2022, nhưng đã được Quốc hội chấp thuận kéo dài đến hết ngày 31/12/2023. Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng khi tiếp tục thực thi Nghị quyết 42 cũng phải quan tâm những vấn đề gây vướng mắc đã phát sinh trong thời gian trước. Theo đó, các ngân hàng cần chủ động, tích cực phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan công an, thi hành án dân sự, cơ quan thuế, tòa án các cấp và các cơ quan liên quan để thực thi có hiệu quả các chính sách tại Nghị quyết số 42. Đặc biệt, một số vấn đề cần quan tâm là các chính sách về thu giữ tài sản đảm bảo (Điều 7 Nghị quyết 42), áp dụng thủ tục rút gọn trong tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tại Tòa án (Điều 8), thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm (Điều 12, Điều 15), các thủ tục liên quan đến chuyển nhượng tài sản bảo đảm, đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai (Điều 9, Điều 15).

Trong khi đó, một trong những giải pháp để tỷ lệ nợ xấu chung không bị tăng lên trong trường hợp có các khoản nợ xấu mới phát sinh là việc xử lý các khoản nợ xấu đã tồn đọng từ trước. Trong nội dung trong văn bản mới đây gửi các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cũng thể hiện khá rõ việc kiểm soát và xử lý nợ xấu vẫn là một nhiệm vụ không thể lơ là. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là các ngân hàng) tiếp tục triển khai và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH14.

Theo Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng cần tiếp tục triển khai đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu, tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu theo Nghị quyết số 42; đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ về xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42 đã được phân công tại Chỉ thị số 06/CT-NHNN ngày 20/7/2017 và các văn bản chỉ đạo của NHNN có liên quan đến việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 42 trong thời gian nghị quyết được kéo dài.

Các ngân hàng và VAMC phải tăng cường phối hợp trong việc triển khai các hoạt động mua, bán, xử lý nợ xấu đối với các khoản nợ mua bằng trái phiếu đặc biệt và mua theo giá thị trường nhằm đẩy mạnh hiệu quả công tác xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu theo Nghị quyết số 42.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 10:30
Ngân hàng