Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024

Chí Tín
(TBTCO) - Bối cảnh thị trường tiền tệ đầu năm 2024 đã có nhiều thay đổi so với cuối năm 2023 và các ngân hàng đối diện với nhiều yếu tố tác động lên hoạt động kinh doanh.
aa
Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024
Các chính sách hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp tiếp tục được triển khai. Ảnh: TL

Có thể giảm lợi nhuận từ cho vay

Cổ phiếu ngân hàng là nhóm dẫn dắt đà tăng của thị trường chứng khoán giai đoạn cuối năm 2023 và đầu năm 2024, trong đó một trong những tin về tốc độ tăng trưởng tín dụng bùng nổ của nhóm này trong tháng 12/2023.

Đưa ra đánh giá chung về nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng, Công ty Chứng khoán SSI cho biết, nhóm này đã có diễn biến tích cực với mức tăng 19% so với cùng kỳ, vượt trội hơn so với mức tăng 12% của chỉ số VN-Index. Trong đó, một số ngân hàng có diễn biến giá tăng tới trên 50%.

Một số cổ phiếu có mức tăng mạnh nhờ tâm lý tích cực của nhà đầu tư sau những thông tin về sự hỗ trợ của hành lang pháp lý. Ngoài ra, thông tin tăng trưởng tín dụng bùng nổ của các ngân hàng trong tháng 12/2023 cũng là một trong những yếu tố khiến nhà đầu tư đặt ra kỳ vọng vào khả năng trưởng mạnh của lợi nhuận ngân hàng đến từ thu nhập lãi thuần.

VNBA lo lắng về tín dụng tiêu dùng

Theo đánh giá của đại diện Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), hiện nay hạn mức tăng trưởng tín dụng không còn là vấn đề, dư địa cho vay nhiều nhưng quan trọng là ngân hàng phải kiếm được khách hàng tốt để cho vay, kể cả cho vay cá nhân.

Ngân hàng tăng cường kiểm soát rủi ro, nhất là đối với tín dụng tiêu dùng và VNBA cũng đặt mối quan tâm đến tín dụng tiêu dùng khi đang xuất hiện các hội nhóm “bùng nợ” trên mạng xã hội, người vay chây ì trả nợ... Do đó, các công ty tài chính không dám mạnh tay cho vay.

Kết quả kinh doanh thực tế của nhóm các ngân hàng niêm yết cho thấy đây là nhóm có tăng trưởng lợi nhuận khá tốt trong quý IV/2023. Cụ thể, tăng trưởng doanh thu của nhóm ngân hàng tăng 9,6%, tăng trưởng lợi nhuận đạt tới 25,7% trong quý IV và điều này đã đóng góp đáng kể đưa kết quả kinh doanh chung của các ngân hàng trong cả năm 2023. Tăng trưởng doanh thu lũy kế của nhóm các ngân hàng trong năm 2023 đạt 4,1%, tăng trưởng lợi nhuận lũy kế cả năm đạt 3,6%.

So hiệu quả của ngân hàng trong quý IV và cả năm cho thấy, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận riêng quý IV đều vượt trội so với tốc độ bình quân cả năm. Theo đó, bước tăng tốc cán đích của các ngân hàng trong thời điểm cuối năm 2023 có thể là một yếu tố quan trọng làm thay đổi cục diện về bức tranh kinh doanh nhóm ngành này. Mặc dù vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng thời gian gần đây bất ngờ giảm mạnh lại đang nảy sinh nỗi lo mới về kết quả lợi nhuận của các ngân hàng trong quý I và nửa đầu năm 2024.

Ẩn số vẫn còn phía trước

Vào ngày 3/8, Ngân hàng Nhà nước cũng đã chấp thuận Nam A Bank nâng vốn điều lệ thêm 1.900 tỷ đồng

Theo công bố mới đây của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng bất ngờ quay đầu âm 0,6% trong tháng 1/2024. Bức tranh này đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện về diễn biến cho vay của ngành Ngân hàng sau khi bùng nổ mạnh mẽ trong tháng 12/2023. Với tình hình tăng trưởng âm của tín dụng đầu năm 2024, thực trạng cho vay của ngành Ngân hàng thậm chí còn đang chậm hơn cả giai đoạn đầu năm 2023, khi đó tín dụng tuy tăng trưởng chậm, nhưng vẫn là con số dương.

Tại một số ngân hàng cụ thể, Vietcombank cho biết, đến hết tháng 1/2024, dư nợ cho vay của ngân hàng này giảm 2,3%, tương ứng khoảng 30.000 tỷ đồng so với cuối năm 2023. Trong đó, tín dụng bán buôn giảm 19.000 tỷ đồng, còn tín dụng bán lẻ giảm 11.000 tỷ đồng. Trong khi đó tại BIDV, dư nợ tín dụng tháng 1 giảm 1,25% so với cuối năm trước, tương đương giảm 25.000 tỷ đồng.

Mặc dù vậy, diễn biến trong 1 tháng đầu năm cũng chưa phản ánh được đầy đủ bức tranh chung của thị trường tiền tệ bởi theo lý giải của một số lãnh đạo các ngân hàng, đây là hiện tượng bình thường trong các tháng đầu năm do tâm lý khách hàng và các hoạt động kinh tế chưa sôi động bởi đây là mùa nghỉ lễ.

Ngoài ra, một trong những yếu tố thuận lợi của ngành Ngân hàng trong giai đoạn tới là Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã được thông qua và nhiều văn bản hướng dẫn sẽ được ban hành thực hiện được kỳ vọng là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động ngân hàng. Các chính sách hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp (như chính sách giảm thuế giá trị gia tăng…) tiếp tục được triển khai, các dự án đầu tư công sau khi hoàn thành các thủ tục đầu tư, các chính sách thương mại tiếp tục được củng cố và mở rộng sẽ tạo đà thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Trong ngắn hạn, diễn biến thuận lợi nữa là mặt bằng lãi suất đang tiếp tục hạ, một số ngân hàng đang để lãi suất huy động kỳ hạn 1 – 2 tháng chỉ dưới 2%/năm và đây là yếu tố giúp cho ngân hàng có thể huy động vốn với chi phí rẻ, từ đó vẫn có thể có lợi nhuận tốt từ thu nhập lãi thuần.

Ngoài ra, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ tín dụng các ngành kinh tế thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết thêm, cơ quan này sẽ tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; khuyến khích các tổ chức tín dụng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng.

ÔNG PHẠM TOÀN VƯỢNG - TỔNG GIÁM ĐỐC AGRIBANK: Tín dụng cuối năm tăng nhanh, đầu năm chậm cũng là thông lệ thường gặp

Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024

Từ đầu năm, chúng tôi đã tập trung triển khai các giải pháp. Thứ nhất, năm nay cơ chế tăng trưởng tín dụng rất đồng loạt, ngay từ đầu năm chúng tôi đã ra kế hoạch nên cho vay không có vướng mắc gì về mặt chỉ tiêu, về mặt lãi suất, về nguồn vốn…

Thứ hai, Agribank có đặc thù là dư nợ cho vay cá nhân chiếm 70% và thông lệ là cuối năm tăng trưởng rất nhanh và đầu năm giảm. Thứ ba, chúng tôi đã xây dựng chính sách tín dụng nói chung về chủ động giảm lãi suất, năm 2023 giảm 6 lần, đầu năm 2024 tiếp tục giảm 1 lần. Đầu năm 2024 đã triển khai gói tín dụng 60 nghìn tỷ với nhóm đối tượng là cho cá nhân. Thứ tư là tập trung vào cải tiến quy trình thủ tục, chúng tôi áp dụng cơ sở dữ liệu về dân cư và đang triển khai.

Riêng về cho vay bất động sản, hiện tại Agribank đang cho vay hơn 200 nghìn tỷ trong đó về dư nợ kinh doanh bất động sản hơn 20 nghìn tỷ đồng. Về cho vay theo chuỗi, chúng tôi đang triển khai trong tâm chuỗi khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

Dự đoán thời gian tới kinh tế sẽ hồi phục nhưng chậm, có thể quý III hoặc quý IV sẽ hồi phục rõ rệt hơn.

ÔNG ĐỖ THANH SƠN - PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH BAN ĐIỀU HÀNH VIETTINBANK: Sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp là cơ sở cho ngân hàng thúc đẩy tín dụng

Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024

VietinBank đã đề xuất tới Chính phủ và các bộ, ban, ngành rất nhiều nội dung tại Hội nghị tổng kết ngành Ngân hàng trong tháng 1 vừa qua, nên tôi xin phép tóm tắt lại rất ngắn gọn.

Điểm nghẽn chính trong tăng trưởng tín dụng đó là sự giảm sút trong nhu cầu hấp thụ tín dụng của doanh nghiệp do tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước. Theo đó, chúng tôi đề xuất các bộ ngành và các địa phương có các giải pháp kích cầu tiêu dùng nội địa; tiếp tục có các chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư nước ngoài; tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp.

Một giải pháp nữa là cần nghiên cứu các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; đa dạng hóa nguồn cung - đối tác, nhà cung cấp nguyên, nhiên, phụ liệu, linh kiện đầu vào đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Chúng ta cũng cần thúc đẩy các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tóm lại, sự ổn định và phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đồng thời đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng cũng như toàn nền kinh tế.

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80