Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024

Chí Tín
(TBTCO) - Bối cảnh thị trường tiền tệ đầu năm 2024 đã có nhiều thay đổi so với cuối năm 2023 và các ngân hàng đối diện với nhiều yếu tố tác động lên hoạt động kinh doanh.
aa
Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024
Các chính sách hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp tiếp tục được triển khai. Ảnh: TL

Có thể giảm lợi nhuận từ cho vay

Cổ phiếu ngân hàng là nhóm dẫn dắt đà tăng của thị trường chứng khoán giai đoạn cuối năm 2023 và đầu năm 2024, trong đó một trong những tin về tốc độ tăng trưởng tín dụng bùng nổ của nhóm này trong tháng 12/2023.

Đưa ra đánh giá chung về nhóm cổ phiếu ngành ngân hàng, Công ty Chứng khoán SSI cho biết, nhóm này đã có diễn biến tích cực với mức tăng 19% so với cùng kỳ, vượt trội hơn so với mức tăng 12% của chỉ số VN-Index. Trong đó, một số ngân hàng có diễn biến giá tăng tới trên 50%.

Một số cổ phiếu có mức tăng mạnh nhờ tâm lý tích cực của nhà đầu tư sau những thông tin về sự hỗ trợ của hành lang pháp lý. Ngoài ra, thông tin tăng trưởng tín dụng bùng nổ của các ngân hàng trong tháng 12/2023 cũng là một trong những yếu tố khiến nhà đầu tư đặt ra kỳ vọng vào khả năng trưởng mạnh của lợi nhuận ngân hàng đến từ thu nhập lãi thuần.

VNBA lo lắng về tín dụng tiêu dùng

Theo đánh giá của đại diện Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), hiện nay hạn mức tăng trưởng tín dụng không còn là vấn đề, dư địa cho vay nhiều nhưng quan trọng là ngân hàng phải kiếm được khách hàng tốt để cho vay, kể cả cho vay cá nhân.

Ngân hàng tăng cường kiểm soát rủi ro, nhất là đối với tín dụng tiêu dùng và VNBA cũng đặt mối quan tâm đến tín dụng tiêu dùng khi đang xuất hiện các hội nhóm “bùng nợ” trên mạng xã hội, người vay chây ì trả nợ... Do đó, các công ty tài chính không dám mạnh tay cho vay.

Kết quả kinh doanh thực tế của nhóm các ngân hàng niêm yết cho thấy đây là nhóm có tăng trưởng lợi nhuận khá tốt trong quý IV/2023. Cụ thể, tăng trưởng doanh thu của nhóm ngân hàng tăng 9,6%, tăng trưởng lợi nhuận đạt tới 25,7% trong quý IV và điều này đã đóng góp đáng kể đưa kết quả kinh doanh chung của các ngân hàng trong cả năm 2023. Tăng trưởng doanh thu lũy kế của nhóm các ngân hàng trong năm 2023 đạt 4,1%, tăng trưởng lợi nhuận lũy kế cả năm đạt 3,6%.

So hiệu quả của ngân hàng trong quý IV và cả năm cho thấy, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận riêng quý IV đều vượt trội so với tốc độ bình quân cả năm. Theo đó, bước tăng tốc cán đích của các ngân hàng trong thời điểm cuối năm 2023 có thể là một yếu tố quan trọng làm thay đổi cục diện về bức tranh kinh doanh nhóm ngành này. Mặc dù vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng thời gian gần đây bất ngờ giảm mạnh lại đang nảy sinh nỗi lo mới về kết quả lợi nhuận của các ngân hàng trong quý I và nửa đầu năm 2024.

Ẩn số vẫn còn phía trước

Vào ngày 3/8, Ngân hàng Nhà nước cũng đã chấp thuận Nam A Bank nâng vốn điều lệ thêm 1.900 tỷ đồng

Theo công bố mới đây của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng bất ngờ quay đầu âm 0,6% trong tháng 1/2024. Bức tranh này đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện về diễn biến cho vay của ngành Ngân hàng sau khi bùng nổ mạnh mẽ trong tháng 12/2023. Với tình hình tăng trưởng âm của tín dụng đầu năm 2024, thực trạng cho vay của ngành Ngân hàng thậm chí còn đang chậm hơn cả giai đoạn đầu năm 2023, khi đó tín dụng tuy tăng trưởng chậm, nhưng vẫn là con số dương.

Tại một số ngân hàng cụ thể, Vietcombank cho biết, đến hết tháng 1/2024, dư nợ cho vay của ngân hàng này giảm 2,3%, tương ứng khoảng 30.000 tỷ đồng so với cuối năm 2023. Trong đó, tín dụng bán buôn giảm 19.000 tỷ đồng, còn tín dụng bán lẻ giảm 11.000 tỷ đồng. Trong khi đó tại BIDV, dư nợ tín dụng tháng 1 giảm 1,25% so với cuối năm trước, tương đương giảm 25.000 tỷ đồng.

Mặc dù vậy, diễn biến trong 1 tháng đầu năm cũng chưa phản ánh được đầy đủ bức tranh chung của thị trường tiền tệ bởi theo lý giải của một số lãnh đạo các ngân hàng, đây là hiện tượng bình thường trong các tháng đầu năm do tâm lý khách hàng và các hoạt động kinh tế chưa sôi động bởi đây là mùa nghỉ lễ.

Ngoài ra, một trong những yếu tố thuận lợi của ngành Ngân hàng trong giai đoạn tới là Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã được thông qua và nhiều văn bản hướng dẫn sẽ được ban hành thực hiện được kỳ vọng là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động ngân hàng. Các chính sách hỗ trợ dòng tiền cho doanh nghiệp (như chính sách giảm thuế giá trị gia tăng…) tiếp tục được triển khai, các dự án đầu tư công sau khi hoàn thành các thủ tục đầu tư, các chính sách thương mại tiếp tục được củng cố và mở rộng sẽ tạo đà thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Trong ngắn hạn, diễn biến thuận lợi nữa là mặt bằng lãi suất đang tiếp tục hạ, một số ngân hàng đang để lãi suất huy động kỳ hạn 1 – 2 tháng chỉ dưới 2%/năm và đây là yếu tố giúp cho ngân hàng có thể huy động vốn với chi phí rẻ, từ đó vẫn có thể có lợi nhuận tốt từ thu nhập lãi thuần.

Ngoài ra, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ tín dụng các ngành kinh tế thuộc Ngân hàng Nhà nước cho biết thêm, cơ quan này sẽ tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; khuyến khích các tổ chức tín dụng đơn giản hóa thủ tục, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng.

ÔNG PHẠM TOÀN VƯỢNG - TỔNG GIÁM ĐỐC AGRIBANK: Tín dụng cuối năm tăng nhanh, đầu năm chậm cũng là thông lệ thường gặp

Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024

Từ đầu năm, chúng tôi đã tập trung triển khai các giải pháp. Thứ nhất, năm nay cơ chế tăng trưởng tín dụng rất đồng loạt, ngay từ đầu năm chúng tôi đã ra kế hoạch nên cho vay không có vướng mắc gì về mặt chỉ tiêu, về mặt lãi suất, về nguồn vốn…

Thứ hai, Agribank có đặc thù là dư nợ cho vay cá nhân chiếm 70% và thông lệ là cuối năm tăng trưởng rất nhanh và đầu năm giảm. Thứ ba, chúng tôi đã xây dựng chính sách tín dụng nói chung về chủ động giảm lãi suất, năm 2023 giảm 6 lần, đầu năm 2024 tiếp tục giảm 1 lần. Đầu năm 2024 đã triển khai gói tín dụng 60 nghìn tỷ với nhóm đối tượng là cho cá nhân. Thứ tư là tập trung vào cải tiến quy trình thủ tục, chúng tôi áp dụng cơ sở dữ liệu về dân cư và đang triển khai.

Riêng về cho vay bất động sản, hiện tại Agribank đang cho vay hơn 200 nghìn tỷ trong đó về dư nợ kinh doanh bất động sản hơn 20 nghìn tỷ đồng. Về cho vay theo chuỗi, chúng tôi đang triển khai trong tâm chuỗi khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.

Dự đoán thời gian tới kinh tế sẽ hồi phục nhưng chậm, có thể quý III hoặc quý IV sẽ hồi phục rõ rệt hơn.

ÔNG ĐỖ THANH SƠN - PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH BAN ĐIỀU HÀNH VIETTINBANK: Sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp là cơ sở cho ngân hàng thúc đẩy tín dụng

Yếu tố đa chiều tác động lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2024

VietinBank đã đề xuất tới Chính phủ và các bộ, ban, ngành rất nhiều nội dung tại Hội nghị tổng kết ngành Ngân hàng trong tháng 1 vừa qua, nên tôi xin phép tóm tắt lại rất ngắn gọn.

Điểm nghẽn chính trong tăng trưởng tín dụng đó là sự giảm sút trong nhu cầu hấp thụ tín dụng của doanh nghiệp do tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước. Theo đó, chúng tôi đề xuất các bộ ngành và các địa phương có các giải pháp kích cầu tiêu dùng nội địa; tiếp tục có các chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư nước ngoài; tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp.

Một giải pháp nữa là cần nghiên cứu các chính sách hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; đa dạng hóa nguồn cung - đối tác, nhà cung cấp nguyên, nhiên, phụ liệu, linh kiện đầu vào đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh; đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Chúng ta cũng cần thúc đẩy các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tóm lại, sự ổn định và phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, đồng thời đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng cũng như toàn nền kinh tế.

Chí Tín

Đọc thêm

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu năm 2026 đạt doanh thu bảo hiểm gốc 6.200 tỷ đồng, tái cấu trúc danh mục nghiệp vụ theo hướng giảm dần phụ thuộc vào xe cơ giới. Doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh phân phối, hợp tác với các đối tác chiến lược, phát triển bảo hiểm số, hướng tới lọt top 4 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.
Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 17,250
Kim TT/AVPL 16,940 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,500 15,700
Nguyên Liệu 99.9 15,450 15,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 17,020
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 16,970
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 16,950
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 17,250
Miếng SJC Nghệ An 16,950 17,250
Miếng SJC Thái Bình 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 17,200
NL 99.90 15,500
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530
Trang sức 99.9 16,390 17,090
Trang sức 99.99 16,400 17,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 17,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 17,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 172
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 168,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 128,038
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 116,102
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 104,165
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 99,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 71,256
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cập nhật: 08/04/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80