6 tháng đầu năm, tăng trưởng kinh tế của Thủ đô vượt kịch bản đề ra

Nam Khánh
(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn Thủ đô tăng cao, vượt kịch bản, quý sau cao hơn quý trước, các cân đối lớn được đảm bảo. Năm 2025, Hà Nội quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 8% trở lên.
aa
Kỳ họp thứ 25 của HĐND TP. Hà Nội sẽ xem xét kế hoạch kinh tế, dự toán thu chi ngân sách 6 tháng đầu năm Hà Nội tăng tốc thi công các dự án trọng điểm

Sáng 8/7, tại Kỳ họp thứ 25, HĐND TP. Hà Nội khóa XVI, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng đã trình bày báo cáo về công tác chỉ đạo, điều hành và kết quả phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2025 của UBND TP. Hà Nội.

GRDP 6 tháng đầu năm đạt 7,63%

6 tháng đầu năm, tăng trưởng kinh tế của Thủ đô Hà Nội vượt kịch bản đề ra
Quang cảnh cuộc họp.

6 tháng đầu năm 2025, TP Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế - xã hội, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, phản ánh hiệu quả của các giải pháp chỉ đạo, điều hành.

Trong đó, tăng trưởng kinh tế vượt kịch bản, quý sau cao hơn quý trước, các cân đối lớn được đảm bảo. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng đầu năm đạt mức tăng trưởng 7,63% (cả nước ước đạt 7,52%), cao hơn cùng kỳ năm 2024 (6,13%) và vượt kịch bản đề ra (7,59%). Quý I tăng 7,56%, quý II tăng 7,69%, dự báo quý III đạt 8,18% và quý IV đạt 8,53%, đảm bảo hoàn thành mục tiêu 8% cả năm.

Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh đánh giá cao sự nỗ lực mạnh mẽ, tinh thần chủ động, nghiêm túc, quyết liệt của Thành uỷ, HĐND, UBND TP. Hà Nội trong phát triển kinh tế xã hội trong 6 tháng đầu năm 2025; GRDP cao hơn bình quân chung của cả nước; tỷ trọng đóng góp vào GRDP cả nước rất cao. Hà Nội được xếp hạng 16 toàn cầu về tiềm năng tăng trưởng đô thị.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện 6 tháng đầu năm 2025 là 392,2 nghìn tỷ đồng, đạt 77,6% dự toán, tăng 51,4% so với cùng kỳ, chiếm khoảng 29,4% tổng thu của cả nước 1.332,3 nghìn tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư phát triển đạt 223,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 14% tổng vốn cả nước (khoảng 1,6 triệu tỷ), tăng 10,5% so với cùng kỳ, cao hơn bình quân cả nước (9,8%).

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được kiểm soát; bình quân 6 tháng đầu năm CPI tăng 3,2% thấp hơn cùng kỳ (5,32%), đạt mục tiêu đề ra là dưới 5%...

Bên cạnh đó, các dự án giao thông trọng điểm được đẩy nhanh theo cơ chế “làn xanh”. Cụ thể, cầu Tứ Liên khởi công ngày 19/5/2025 (tổng mức đầu tư 20,2 nghìn tỷ đồng, dài 11,5 km), các cầu Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi, Vân Phúc, Thượng Cát dự kiến khởi công dịp 2/9/2025. Các dự án Vành đai 4 (giải ngân 17,3%), Vành đai 1 (51,4%)... được triển khai tích cực.

6 tháng đầu năm, tăng trưởng kinh tế của Thủ đô Hà Nội vượt kịch bản đề ra
Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng trình bày báo cáo tại cuộc họp.

Quyết tâm đạt GRDP 8% trở lên

Mặc dù đạt kết quả tích cực, tuy nhiên Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng cũng cho biết, UBND thành phố nhận thấy một số mặt công tác vẫn còn hạn chế cần được tập trung giải quyết triệt để tạo đà cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.

Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp đạt mức tăng 5,9% chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của Hà Nội, thấp hơn kịch bản đề ra. Số doanh nghiệp giải thể tăng 33,7% và tạm ngừng hoạt động tăng 17,5%, cao hơn mức trung bình toàn quốc...

"Với tinh thần trách nhiệm cao, thành phố cam kết triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp, từ hỗ trợ doanh nghiệp, đẩy mạnh chuyển đổi số, đến công tác vệ sinh môi trường, nhằm khắc phục triệt để các hạn chế này, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh, bền vững trong thời gian tới" - ông Dũng nhấn mạnh.

Về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2025, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Trương Việt Dũng cho biết, UBND TP. Hà Nội tập trung đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, quyết tâm đạt GRDP 8% trở lên.

Theo đó, thành phố tập trung kích cầu tiêu dùng nội địa như: Tổ chức các hội chợ lớn trong quý III và IV/2025 kết hợp quảng bá sản phẩm OCOP và đặc sản làng nghề, phấn đấu tăng doanh thu bán lẻ thêm 10-12% trong quý IV/2025; triển khai hệ thống phần mềm tiện ích thông minh tích hợp hóa đơn điện tử, hỗ trợ 311.000 hộ kinh doanh tuân thủ quy định thuế từ 1/6/2025.

Bên cạnh đó, thúc đẩy sản xuất công nghiệp, tập trung vào các ngành thế mạnh như máy móc, thiết bị, sản phẩm khoáng phi kim loại, xe có động cơ, phấn đấu tăng chỉ số IIP lên 7% vào cuối năm. Kết nối doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua 5 hội thảo quốc tế.

Cùng với đó, hỗ trợ, phát triển kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh: Ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 138/NQ-CP trong tháng 8/2025, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, quy hoạch cho doanh nghiệp, giảm tỷ lệ giải thể xuống dưới 30% và tạm ngừng hoạt động xuống dưới 15%. Hỗ trợ 10.447 hộ kinh doanh lớn chuyển đổi thành doanh nghiệp với các chính sách ưu đãi thuế và thủ tục hành chính theo Nghị định 70/2025/NĐ-CP.

Song song đó, đẩy nhanh tiến độ giải ngân với quyết tâm đạt 100% vốn đầu tư công; tăng cường kiểm soát thanh toán, quyết toán, giải quyết triệt để khó khăn về giải phóng mặt bằng, biến động giá vật liệu...

Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, TP. Hà Nội đã công nhận thêm 72 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, nâng tổng số lên 187 doanh nghiệp; hỗ trợ 77 doanh nghiệp về tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; quảng bá 184 sản phẩm công nghệ số đạt giải quốc gia trên iHanoi...

Nam Khánh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80