ACB được Fitch Ratings nâng mức triển vọng tín dụng dài hạn từ “ổn định” lên “tích cực”

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố về việc nâng mức triển vọng tín dụng dài hạn bằng ngoại tệ (Long-Term Issuer Default Rating - IDR) của ACB từ mức "Ổn định" lên "Tích cực", đồng thời giữ nguyên mức xếp hạng "BB-".
aa
ACB được Fitch Ratings nâng mức triển vọng tín dụng dài hạn từ “ổn định” lên “tích cực”
ACB được Fitch Ratings nâng mức triển vọng tín dụng dài hạn từ “ổn định” lên “tích cực”. Ảnh: T.L

Fitch cũng giữ nguyên Xếp hạng khả năng thanh toán (Viability Rating - VR) ở mức "bb-", Xếp hạng hỗ trợ của Chính phủ (Government Support Rating - GSR) ở mức "bb-", và lần đầu tiên cấp xếp hạng IDR nội tệ dài hạn ở mức "BB-" với triển vọng "Tích cực" đối với ACB.

Theo báo cáo đánh giá mới nhất từ Fitch Ratings, ACB đạt được một số yếu tố thúc đẩy tổ chức này điều chỉnh nâng hạng trong đánh giá về triển vọng phát triển bền vững, lâu dài như năng lực tín dụng được cải thiện, chiến lược bán lẻ đúng hướng, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát cùng với hệ thống quản trị rủi ro chặt chẽ trong khi khả năng sinh lời được dự báo tăng trưởng và có vốn dự trữ ổn định.

Fitch ghi nhận Xếp hạng IDR dài hạn của ACB dựa trên xếp hạng VR, phản ánh năng lực quản lý rủi ro tín dụng độc lập của ngân hàng. Triển vọng “Tích cực” phản ánh kỳ vọng về sự cải thiện chất lượng tài sản trong 12-18 tháng tới, nhờ môi trường kinh tế thuận lợi và tiêu chuẩn thẩm định nhất quán của Ngân hàng bên cạnh những yếu tố khác giúp giảm thiểu rủi ro liên quan đến tăng trưởng tín dụng nhanh.

Là một trong những ngân hàng tư nhân hàng đầu Việt Nam, ACB khẳng định vị thế với tỷ trọng tín dụng và huy động mảng bán lẻ cao nhất trong số các ngân hàng tư nhân nội địa được xếp hạng với tỷ lệ lần lượt chiếm 65% và 80%. Đây là tỷ lệ cao nhất trong số các ngân hàng tư nhân nội địa được xếp hạng và là một trong những yếu tố quan trọng giúp ngân hàng tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định. Fitch chỉ ra rằng ACB đang không chỉ tập trung vào mảng bán lẻ mà còn đẩy mạnh mảng doanh nghiệp một cách có chọn lọc, ra mắt nhiều sản phẩm dịch vụ mới và đồng hành mang đến nhiều giá trị hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây.

ACB cũng là ngân hàng kiểm soát nợ xấu tốt. Mặc dù trong 9 tháng đầu năm 2024, tỷ lệ nợ xấu của ACB tăng nhẹ lên 1,5%, nhưng tỷ lệ này vẫn thấp hơn mức trung bình của ngành và các ngân hàng khác được xếp hạng, điều này cho thấy khả năng lựa chọn khách hàng tốt của ngân hàng. Do đó, Fitch đã điều chỉnh triển vọng đối với điểm chất lượng tài sản từ “Tiêu cực” lên “Tích cực”. Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng (LDR) của ACB tăng lên 99% vào tháng 9 năm 2024, phù hợp với các xu hướng chung trong ngành, tỷ lệ LDR theo quy định của Ngân hàng Nhà nước luôn ở mức thấp dưới 84%. Fitch Ratings đánh giá cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng và kỳ vọng các chỉ số thanh khoản sẽ duy trì ở mức phù hợp với xếp hạng để trở nên tốt hơn trong năm tới.

Tuy tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 của ACB (Fitch Core Capitalisation) giảm xuống 12,3% vào tháng 9 năm 2024 nhưng vẫn đảm bảo bộ đệm vốn đầy đủ. ACB dự kiến sẽ duy trì vốn cấp 1 cao hơn mức trung bình của các đối thủ được xếp hạng, nhờ khả năng tạo vốn nội bộ được cải thiện.

Theo Fitch, trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam đạt 6,8% trong 9 tháng đầu năm 2024, dự báo tăng trưởng trung bình 6,5% trong các năm tới sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho ACB mở rộng hoạt động kinh doanh và giảm thiểu rủi ro liên quan đến chất lượng tài sản. Fitch dự báo khả năng sinh lời của ACB sẽ phục hồi vào năm 2025 nhờ nhu cầu vay bán lẻ tăng trở lại, và thu nhập phụ thuộc vào thị trường sẽ được cải thiện khi thị trường phát triển ổn định.

Fitch Ratings cũng đánh giá các yếu tố ESG của ACB đạt mức trung tính hoặc ít có tác động, phản ánh cam kết mạnh mẽ của ngân hàng trong việc quản lý bền vững các vấn đề môi trường, xã hội và quản trị. ACB tập trung xây dựng các chính sách tín dụng thân thiện với môi trường, hỗ trợ cộng đồng và minh bạch trong hoạt động kinh doanh. Ngân hàng đã đưa ra Khung tài chính bền vững và đẩy mạnh gói tín dụng xanh/ xã hội lên 4.000 tỷ đồng để hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển dịch theo hướng phát triển bền vững.

Ngân hàng không ngừng tích hợp các sáng kiến ESG vào chiến lược phát triển dài hạn, hướng tới tạo giá trị lâu bền cho khách hàng, cổ đông và xã hội. Các nỗ lực này không chỉ nâng cao vị thế của ACB mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Việc được Fitch Ratings nâng cấp triển vọng và giữ nguyên mức xếp hạng tín dụng “BB-” một lần nữa khẳng định vị thế vững chắc của ACB trên thị trường tài chính Việt Nam bằng hành trình tiếp tục đổi mới, duy trì chất lượng dịch vụ và tập trung vào các giải pháp tài chính bền vững, đồng hành cùng khách hàng theo hướng lâu dài.

Hồng Chi

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80