Agribank tiếp sức cho nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững

Thi Nhân
(TBTCO) - Sự đóng góp của Agribank với vai trò chủ lực trên thị trường vốn và tín dụng cho "tam nông" có ý nghĩa kinh tế, chính trị và xã hội sâu sắc. Từ nguồn vốn đó, nông nghiệp và nông thôn khởi sắc nhờ phá thế độc canh, chuyển dịch cơ cấu và nông dân - những “người bạn đồng hành” của Agribank ngày càng trưởng thành, biết tự vượt lên nghèo đói và vươn tới làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương mình.
aa

Chuyện về vay vốn “đổi đời”

Định kỳ vào 7h sáng, thứ 2 hàng tuần, bất kể nắng mưa, chuyến xe ngân hàng lưu động của Agribank Mộc Châu lại khởi hành đến với xã vùng cao Nà Mường, một xã miền núi với 5.000 nhân khẩu, với 30% là đồng bào dân tộc thiểu số. Người dân nơi đây thu nhập vẫn dựa vào nông nghiệp nên tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao. Với họ, tiếp cận được nguồn vốn chính sách của Nhà nước là cơ hội để đầu tư, sản xuất, cải thiện cuộc sống.

Gia đình ông Đinh Văn Kiều ở bản K’Tèo vốn là hộ nghèo. Năm 2015, ông được vay vốn 100 triệu đồng từ Agribank Mộc Châu, thông qua sự bảo lãnh của tổ vay vốn. Số tiền này đã được ông đầu tư vào mua 5 con bò giống và trồng 2 ha bưởi da xanh. Khi biết tin xe ngân hàng lưu động về tận xã phục vụ, ông Kiều tính trả hết nợ cũ và xin vay đợt mới để tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế gia đình. Số tiền vay mới này gia đình ông sẽ được đầu tư làm chuồng trại nuôi trâu bò, còn số tiền lần trước sẽ tập trung vào những loại cây có giá trị cao như nhãn ghép, bưởi da xanh và xoài, thay thế các cây giống không có giá trị trước kia. Nhờ đó, thu nhập của gia đình ông tăng trưởng rất ổn định.

Thăm huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) – hòn đảo có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh của Tổ quốc, chúng tôi có dịp trò chuyện cùng "triệu phú" nuôi trồng thủy sản Huỳnh Ngọc Thảo (thôn Đông, An Hải). Ông Thảo cho biết, bè cá bớp của gia đình năm nay thắng lớn, bởi nhu cầu thị trường tăng đột biến khiến giá cả tăng cao.

Những năm trước, mức giá trung bình chỉ khoảng 120.000 đồng/kg – 130.000 đồng/kg, năm nay cá bớp bán ra giá 180.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm lên tới 220.000 đồng/kg. Với quy mô 50 lồng, trừ các loại chi phí, ông Thảo có lãi 1,5 tỷ đồng. Niềm vui "được mùa" dường như đã xua đi hết những vất vả, mệt mỏi trong cái nắng gay gắt của ông chủ bè cá.

Kể lại cơ duyên với nghề, ông Thảo cho hay, ông "nhập" nghề đến nay vừa tròn 5 năm. Khi đó, thấy anh em nuôi trồng thủy sản làm ăn khấm khá, ông Thảo cũng quyết tâm đầu tư với mong muốn đổi đời. Quyết tâm là vậy nhưng vấn đề khiến ông đau đầu chính là nguồn vốn, bởi khả năng tài chính của gia đình khi đó không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư. Dòng vốn tín dụng từ Agribank chính là "chìa khóa" giúp ông giải được "bài toán" khó nhất tại thời điểm đó.

Agribank luôn sát cánh cùng nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững.
Agribank luôn sát cánh cùng nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững. Ảnh: Thi Nhân

"Tôi có thể gây dựng được quy mô bè cá lớn, mỗi năm lợi nhuận cả tỷ đồng như hiện nay cũng là nhờ sự đồng hành tận tâm của Agribank. Trong mọi thời điểm, các cán bộ Agribank Lý Sơn đều tạo điều kiện, hỗ trợ làm thủ tục nhanh, với lãi suất thấp hơn nhiều các ngân hàng khác, tạo điều kiện thuận lợi cho bà con nuôi trồng thủy sản vay vốn" - ông Thảo thông tin.

Đến huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng hiện nay sẽ không còn gặp hình ảnh hàng trăm người nông dân đổ ra đồng làm việc đồng áng bằng những công cụ thô sơ, mà thay vào đó là những chiếc máy cày, máy xới, máy gặt đập liên hợp với năng suất cao. Trong câu chuyện về việc vay vốn ưu đãi từ Agribank Thạnh Trị để mua máy cày phục vụ sản xuất nông nghiệp, anh Lâm Minh Thống, ngụ ấp Phú Tân, thị trấn Phú Lộc, vui vẻ cho biết: “Năm 2018, gia đình tôi được Agribank Thạnh Trị cho vay 300 triệu đồng để đầu tư máy xới và được hỗ trợ 100% lãi suất trong 2 năm đầu, 50% lãi suất từ năm thứ 3. Với chiếc máy này, tôi cùng con trai đi xới thuê, có thu nhập ổn định nên gia đình không những vượt qua khó khăn mà còn vươn lên khấm khá".

Còn ông Trần Đại Bó, ở ấp Phú Tân, thị trấn Phú Lộc (Thạnh Trị) bộc bạch: “Là khách hàng truyền thống nên hơn 10 năm nay, gia đình tôi luôn gắn bó với Agribank Thạnh Trị. Cụ thể vào năm 2019, tôi vay hơn 290 triệu đồng từ Agribank Thạnh Trị để mua 1 chiếc máy cày. Sau thời gian làm ăn có hiệu quả nên năm 2020, gia đình tôi tiếp tục vay hơn 330 triệu đồng cũng từ Agribank Thạnh Trị để mua mới thêm 1 chiếc nữa. Với 2 chiếc máy cày, ngoài việc phục vụ 57 công đất của gia đình tôi còn làm dịch vụ cày xới cho khoảng 1.000 ha/năm đất nông nghiệp của bà con trong huyện. Nhờ đó mà có thêm thu nhập, kinh tế gia đình ngày càng ổn định”.

Giúp diện mạo nông thôn từng bước đổi thay

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới, Agribank triển khai trong toàn hệ thống chương trình hợp tác, xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới bắt đầu từ năm 2011, đến cuối năm 2012 chương trình đã triển khai rộng khắp cả nước. Từ 11 xã thí điểm ban đầu, đến nay Agribank đã triển khai cho vay 100% các xã thực hiện xây dựng nông thôn mới với gần 8.300 xã. Doanh số cho vay từ khi triển khai chương trình gần 4 triệu tỷ đồng; dư nợ hơn 600 ngàn tỷ đồng cho 2,2 triệu khách hàng.

Có thể thấy nguồn vốn của Agribank đã hỗ trợ, tạo điều kiện giúp diện mạo nông thôn từng bước đổi thay. Nhiều địa phương đã có các trường học đạt chuẩn, đường giao thông được bê tông hóa, hệ thống kênh mương được nâng cấp, nhà tạm được xóa bỏ… Agribank đã xây dựng kế hoạch và sử dụng nguồn quỹ an sinh xã hội chi hỗ trợ, với tổng số tiền gần 633 tỷ đồng để hỗ trợ xây dựng trạm y tế, trường học, nhà văn hóa, nhà tình nghĩa, công trình thủy lợi, nước sạch sinh hoạt…

Triển khai hệ thống tổ vay vốn, tạo kênh dẫn vốn và quản lý hiệu quả

Với mục tiêu khơi thông nguồn vốn tín dụng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, Agribank đã phối hợp với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ triển khai hệ thống tổ vay vốn nhằm tạo kênh dẫn vốn và quản lý vốn hiệu quả. Tổ vay vốn còn là nơi để các thành viên gửi gắm niềm tin, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và được ví như “cánh tay nối dài” của Agribank đến với người dân.

Hoạt động an sinh xã hội và hỗ trợ thiết thực của Agribank đã góp phần rất tích cực vào việc xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận dân cư, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng và cho toàn xã hội, thực hiện thành công chủ trương của Đảng và Nhà nước về công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng và đổi mới đất nước...

Với bề dày và kinh nghiệm hơn ba thập kỷ hoạt động trên thị trường nông nghiệp, nông thôn, Agribank tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm của một định chế tài chính hiện đại, cùng ngành Ngân hàng có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là sự nghiệp phát triển “tam nông”.

Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt khu vực nông thôn

Agribank đã triển khai Đề án phát triển dịch vụ thẻ tại thị trường nông nghiệp, nông thôn. Đề án này có vai trò và ý nghĩa kinh tế - xã hội hết sức quan trọng trong việc đẩy mạnh chủ trương thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển dịch vụ thẻ tại thị trường nông nghiệp, nông thôn theo chủ trương của Chính phủ và chỉ thị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Agibank cho biết, hiện nay tại địa bàn nông nghiệp, nông thôn trên toàn quốc có khoảng hơn 1.000 điểm chấp nhận thanh toán thẻ của Agribank, bao gồm cả các đơn vị cung ứng dịch vụ công (điện, nước, viễn thông, học phí, viện phí,…), các cửa hàng, đại lý cung ứng dịch vụ, vật tư nông nghiệp, thu mua nông sản và các tiệm tạp hóa.

Theo đó, Agribank triển khai chính sách miễn 100% chi phí trang bị, lắp đặt POS cho khách hàng là các pháp nhân, cá nhân cung ứng hàng hóa, dịch vụ hợp pháp trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, ngân hàng miễn 100% phí chiết khấu cho tất cả các giao dịch thẻ thuộc diện triển khai của đề án, đơn giản hóa tối đa thủ tục cho vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng nhỏ lẻ ở khu vực nông thôn, góp phần tham gia đấu tranh, hạn chế “tín dụng đen”; tiếp tục khẳng định sứ mệnh vì “Tam nông”, vai trò chủ lực của Agribank trên thị trường tài chính nông thôn.

Thi Nhân

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80