Agribank triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2025 khu vực Đông Nam Bộ

(TBTCO) - Agribank vừa tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh doanh khu vực Đông Nam Bộ năm 2025 nhằm đánh giá tình hình, cơ hội và thách thức, đồng thời đề ra các giải pháp chiến lược kinh doanh cho các chi nhánh khu vực Đông Nam Bộ trong năm 2025.
aa

Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Hà Nội và được kết nối trực tuyến tới 10 điểm cầu thuộc các chi nhánh Agribank trong khu vực. Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình tham dự và chủ trì hội nghị.

Hội nghị còn có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các ban/trung tâm tại Trụ sở chính, Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và 10 chi nhánh thuộc khu vực Đông Nam Bộ gồm Chi nhánh Bình Dương, Khu công nghiệp Sóng Thần, Bình Phước, Tây Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Nam Đồng Nai, Bắc Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Vũng Tàu.

Agribank triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2025 khu vực Đông Nam Bộ
Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình chủ trì Hội nghị về triển khai nhiệm vụ kinh doanh khu vực Đông Nam Bộ năm 2025.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình nhấn mạnh, mặc dù nền kinh tế còn nhiều biến động, hoạt động của Agribank tại khu vực Đông Nam Bộ vẫn đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tổng dư nợ tín dụng năm 2024 tăng trưởng 11%, tương ứng với mức tăng 171.000 tỷ đồng, tuy nhiên, so với tiềm năng của khu vực, kết quả này vẫn chưa thực sự bứt phá. Do đó, mục tiêu năm 2025 được đặt ra với tăng trưởng tín dụng tối thiểu 12% nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế mạnh mẽ của khu vực, đòi hỏi các chi nhánh phải triển khai các giải pháp quyết liệt hơn, mở rộng tín dụng không chỉ với khách hàng truyền thống mà còn hướng đến các lĩnh vực mới, đặc biệt là các dự án trọng điểm quốc gia.

Thông tin về bối cảnh tình hình hoạt động của Agribank năm 2025, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình cho biết, huy động vốn trong năm nay sẽ gặp nhiều thách thức hơn so với năm trước.

Vì vậy, các chi nhánh cần có chiến lược ngay từ đầu năm, không chỉ tập trung vào khách hàng cá nhân mà còn mở rộng hợp tác với doanh nghiệp lớn, tổ chức tài chính để đảm bảo nguồn vốn ổn định.

Agribank triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2025 khu vực Đông Nam Bộ
Đại diện Ban/Trung tâm tại Trụ sở chính phát biểu tại hội nghị.

Tại hội nghị, các chi nhánh khu vực Đông Nam Bộ đã báo cáo tình hình kinh doanh đến hết ngày 30/1/2025, xác định các nhiệm vụ trọng tâm cho quý I và cả năm 2025.

Theo đó, việc huy động vốn tiếp tục tăng trưởng nhưng gặp áp lực cạnh tranh lớn từ các ngân hàng thương mại cổ phần. Dư nợ tín dụng duy trì mức tăng trưởng ổn định, tuy nhiên để đạt mục tiêu năm 2025 đề ra, các chi nhánh cần mở rộng sang các lĩnh vực mới, đặc biệt là các dự án hạ tầng, sản xuất và thương mại. Bên cạnh đó, vấn đề kiểm soát nợ xấu cũng được nhấn mạnh, đạt ra yêu cầu đối với các chi nhánh cần tăng cường quản lý rủi ro, giám sát tín dụng chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo sự ổn định trong hoạt động kinh doanh.

Trước những thách thức của năm 2025, các chi nhánh đã đưa ra các giải pháp trọng tâm nhằm đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khách hàng mới, mở rộng tín dụng sang nhiều lĩnh vực.

Bên cạnh đó, các chi nhánh khu vực Đông Nam Bộ cũng tập trung vào tăng trưởng tín dụng song song với kiểm soát rủi ro, đảm bảo dòng vốn được sử dụng hiệu quả. Về huy động vốn, nhiều đơn vị đề xuất triển khai các chương trình ưu đãi, làm việc với các doanh nghiệp lớn để khai thác nguồn vốn tiềm năng.

Ngoài ra, gia tăng thu dịch vụ cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, trong đó tập trung vào các sản phẩm thanh toán, bảo lãnh và dịch vụ tài chính. Để đảm bảo chất lượng tín dụng, các chi nhánh cam kết kiểm soát chặt chẽ nợ xấu, đưa ra các giải pháp xử lý linh hoạt, đồng thời tăng cường công tác thu hồi nợ.

Agribank triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2025 khu vực Đông Nam Bộ
Đại diện Agribank Chi nhánh Vũng Tàu báo cáo tại hội nghị.

Nhằm hỗ trợ các chi nhánh trong việc thực hiện kế hoạch kinh doanh, các Ban/Trung tâm tại Trụ sở chính đã phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai các chương trình tín dụng cùng các cơ chế chính sách và định hướng điều hành.

Trên cơ sở đó, các chi nhánh sẽ đánh giá kế hoạch kinh doanh tài chính trong năm 2025 sát với tình hình cùng chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng, huy động vốn và quản lý rủi ro để mở rộng khách hàng và giữ vững được thị phần.

Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình khẳng định năm 2025 sẽ là một năm nhiều thử thách nhưng cũng không ít cơ hội, đòi hỏi sự quyết tâm cao của toàn hệ thống. Các chi nhánh khu vực Đông Nam Bộ cần chủ động, linh hoạt trong triển khai kế hoạch kinh doanh, tận dụng tối đa tiềm năng của từng địa bàn để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và huy động vốn một cách bền vững. Sự phát triển của Agribank không chỉ dựa vào việc mở rộng thị phần, mà còn phải gắn liền với chất lượng tín dụng, hiệu quả quản trị rủi ro và sự hài lòng của khách hàng.

Agribank triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2025 khu vực Đông Nam Bộ

Hội nghị được kết nối trực tuyến đến tất cả chi nhánh trong khu vực Đông Nam Bộ.

Đặc biệt, trong bối cảnh năm 2025 có thể xuất hiện những diễn biến phức tạp về lãi suất, thanh khoản và tình hình kinh tế, các đơn vị trong hệ thống Agribank cần theo sát diễn biến thị trường, phối hợp chặt chẽ với các Ban/Trung tâm tại Trụ sở chính để có những điều chỉnh phù hợp trong hoạt động kinh doanh.

Kết thúc hội nghị, Phó Tổng Giám đốc kêu gọi toàn hệ thống cùng đồng lòng, quyết tâm cao độ để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, không chỉ về chỉ tiêu tín dụng và huy động vốn mà còn trong việc gia tăng thị phần, phát triển khách hàng mới, mở rộng sản phẩm dịch vụ, kiểm soát chặt chẽ nợ xấu và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.

Với sự hỗ trợ sát sao từ trụ sở chính, sự phối hợp chặt chẽ giữa các chi nhánh, cùng tinh thần chủ động, sáng tạo và đổi mới, Agribank khu vực Đông Nam Bộ được kỳ vọng sẽ có một năm 2025 bứt phá mạnh mẽ, cùng Agribank tiếp tục khẳng định vị thế của một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam./.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80