"Bệ đỡ" cho phụ nữ làm chủ doanh nghiệp, chinh phục từng ước mơ

Trúc Lam
(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, phải đối mặt với nhiều rào cản tài chính. Tuy nhiên, với khát vọng đưa doanh nghiệp phát triển và chinh phục những tầm cao mới, nữ chủ doanh nghiệp đã kiên định tìm kiếm giải pháp và sự hỗ trợ đồng hành từ các tổ chức tài chính, từ đó biến khó khăn thành cơ hội.
aa
Các chương trình dành riêng cho phụ nữ của SeABank.

Vượt qua rào cản vốn lưu động

Năm 2014, chị Dư Tú Anh - một nữ doanh nhân Hà Nội, đã mua lại doanh nghiệp xuất nhập khẩu Chân trời mới bằng số tiền tiết kiệm sau nhiều năm làm việc tại một công ty ở Singapore. Với vai trò Giám đốc, chị bắt đầu khởi nghiệp để có thể tự chủ và cân đối thời gian dành cho gia đình. Trong quá trình kinh doanh, chị Tú Anh nhận ra nhu cầu lớn về quà tặng trong các chiến dịch bán hàng và dịp kỷ niệm. Chị quyết định mở rộng kinh doanh sang lĩnh vực quà tặng doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc duy trì dòng tiền ổn định là thách thức lớn. Công ty thường gặp khó khăn về vốn lưu động, đặc biệt khi các đơn hàng chồng chéo và cần đối ứng 100% vốn.

Ở một trường hợp khác, chị Nguyễn Thị Linh - Giám đốc Tài chính của Công ty TNHH Hoàng Anh cũng đối mặt với khó khăn tương tự. Công ty của chị Linh chuyên sản xuất và cung cấp bao bì gỗ, đã phát triển mạnh và xuất khẩu sang nhiều thị trường châu Á. Tuy nhiên, việc di dời nhà máy để giảm ô nhiễm và mở đường đòi hỏi khoảng 10 tỷ đồng.

Để giải quyết vấn đề này, chị Linh và chị Tú Anh đều tìm đến Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank), nơi từng hỗ trợ tài chính cho họ. SeABank có chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp nữ với lãi suất thấp và thủ tục nhanh chóng. Chị Linh từng vay gần 9 tỷ đồng để tăng vốn lưu động, còn chị Tú Anh được cấp hạn mức tín dụng 2 tỷ đồng để thực hiện các đơn hàng lớn.

Với sự hỗ trợ của SeABank, cả hai nữ doanh nhân tiếp tục chinh phục ước mơ, mở rộng kinh doanh và vượt qua rào cản vốn lưu động.

Ông Trần Đức - Phó Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp của SeABank chia sẻ rằng, từ 5 năm trước, SeABank là một trong những ngân hàng đầu tiên hướng đến khách hàng nữ. Ngân hàng đánh giá khách hàng dựa trên thu nhập, lịch sử giao dịch hoặc lịch sử tín dụng và áp dụng các chính sách khác nhau như lãi suất vay thấp hơn hoặc các ưu đãi về phí. Tài sản thế chấp chỉ là một trong nhiều yếu tố xem xét. Ngân hàng còn cung cấp các sản phẩm tài chính được thiết kế riêng, giúp giảm bớt rào cản tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ.

Hỗ trợ hiệu quả cho các nữ chủ doanh nghiệp

Không ngừng phát triển phân khúc khách hàng do phụ nữ làm chủ

Chúng tôi nhận thấy rằng các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ rất sáng tạo và tài năng. Họ có khả năng đàm phán xuất sắc để ký được hợp đồng, chưa kể đến những điểm mạnh trong vận hành doanh nghiệp, phát triển thị trường và mở rộng mối quan hệ với các đối tác mới. Chúng tôi coi đó là những lợi thế, và chính vì thế, phân khúc khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ của chúng tôi không ngừng phát triển, thể hiện qua những con số tăng trưởng ấn tượng qua mỗi năm. Ông Trần Đức - Phó Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp, SeABank

Vừa qua, SeABank đã hợp tác với Quỹ Sáng kiến tài chính dành cho nữ doanh nhân (We-Fi) của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) để được hưởng khoản ưu đãi 140.000 USD đi kèm với khoản vay vốn trị giá 170 triệu USD, nhằm mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ. Trong đó, ít nhất 20 triệu USD được dành riêng để cho vay các doanh nghiệp này. Ngoài khoản đầu tư này, với sự hỗ trợ của Chính phủ Australia, IFC còn cung cấp dịch vụ tư vấn giúp SeABank thiết kế và quản lý danh mục cho vay cho doanh nghiệp nữ, bao gồm phát triển giá trị cốt lõi và thiết kế các sản phẩm tài chính, phi tài chính. Các dịch vụ tư vấn này đã hỗ trợ hiệu quả cho các nữ chủ doanh nghiệp.

Vào cuối năm 2023, SeABank chính thức ra mắt Câu lạc bộ dành cho nữ chủ doanh nghiệp - SeAPower, trong đó cung cấp nhiều lợi ích tài chính và phi tài chính chuyên biệt cho các nữ doanh nhân, nhằm nâng cao năng lực và phát triển thị trường dành cho phụ nữ. Câu lạc bộ tạo ra nhiều diễn đàn tương tác, các buổi hội thảo và đào tạo, các quầy cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ tại các chi nhánh ngân hàng, cơ hội kết nối doanh nghiệp, chương trình khuyến mại với các thương hiệu uy tín, đồng thời hỗ trợ truyền thông và xây dựng thương hiệu. Phía SeABank cho hay, đây là sân chơi giúp cộng đồng nữ doanh nhân, bao gồm cả những khách hàng hiện tại và tiềm năng của SeABank, tham gia vào các hoạt động kết nối và mở rộng cơ hội học hỏi nâng cao năng lực.

Ngân hàng SeABank dự kiến sẽ tiếp tục phát triển Câu lạc bộ SeAPower dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ trong những năm tới. Hơn nữa, với sự hỗ trợ của IFC, Ngân hàng SeABank đã thiết kế và ra mắt một sản phẩm tín dụng mới dựa trên dòng tiền vào tháng 6/2024, hướng đến các doanh nghiệp quy mô nhỏ và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Mặc dù mới được triển khai, sản phẩm này đã được đón nhận mạnh mẽ. Trong thời gian tới, SeABank sẽ thúc đẩy sản phẩm này tại tất cả các chi nhánh của ngân hàng.

Tháo gỡ rào cản về tín dụng cho doanh nghiệp nữ chủ

Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới - một nền kinh tế mở và có khả năng phục hồi mạnh mẽ sau những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, phần lớn lượng tín dụng tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam được phân bổ cho các doanh nghiệp lớn, trong khi có khoảng 66% nhu cầu vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa được đáp ứng. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ phải đối mặt với nhiều rào cản tài chính.

Ở nhiều quốc gia, phụ nữ thường gặp nhiều khó khăn hơn so với nam giới khi muốn tiếp cận nguồn vốn vay. Một trong những yếu tố nữa ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận tín dụng của phụ nữ là thiếu hụt thông tin và kiến thức về tài chính. Nhiều doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ thường không được tham gia vào các khóa đào tạo về quản lý tài chính, dẫn đến việc họ không nắm rõ quy trình vay vốn, cũng như các điều kiện và yêu cầu của ngân hàng. Bên cạnh đó, nhiều phụ nữ có thể thiếu tự tin trong việc lập kế hoạch kinh doanh và trình bày ý tưởng của mình trước các nhà đầu tư hoặc ngân hàng.

Thêm vào đó, tài sản thế chấp cũng thường là một yếu tố cản trở. Phụ nữ, đặc biệt là trong các vùng nông thôn, có thể không sở hữu tài sản riêng hoặc tài sản đứng tên họ, điều này khiến họ khó có thể vay vốn. Các ngân hàng thường yêu cầu tài sản thế chấp để giảm thiểu rủi ro, và thiếu hụt này khiến phụ nữ không thể đáp ứng yêu cầu vay vốn.

Tại Việt Nam, chỉ có 37% doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ có khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng và giá trị khoản vay mà họ nhận được thường nhỏ hơn so với các doanh nghiệp do nam giới làm chủ, trong khi 47% các doanh nghiệp do nam giới làm chủ được tiếp cận tín dụng ngân hàng.

Để cải thiện tình hình, các giải pháp cần thiết bao gồm việc xây dựng các chương trình hỗ trợ tài chính và tư vấn cho những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Các tổ chức phi chính phủ và chính phủ có thể phối hợp tổ chức các buổi hội thảo, khóa học nhằm nâng cao kiến thức về tài chính và khả năng quản lý cho phụ nữ.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần xem xét việc phát triển các sản phẩm tài chính phù hợp với đối tượng này, như các gói vay không yêu cầu tài sản thế chấp hoặc gói vay với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh doanh không chỉ giúp họ phát triển kinh tế cá nhân mà còn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chung.

Trúc Lam

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80