Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 22/04/2026, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026, với trọng tâm mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2023 – 2028, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
aa
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng
Đại hội cũng đã thông qua việc miễn nhiệm và bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát SeABank nhiệm kỳ 2023 – 2028

Bên cạnh đó, ĐHĐCĐ cũng thông qua phương án phát hành cổ phiếu để trả cổ tức tỷ lệ 20,5% và phát hành 40 triệu cổ phiếu ESOP, tăng vốn điều lệ Ngân hàng lên 34.688 tỷ đồng.

Tăng trưởng ổn định, khẳng định vị thế

Tại Đại hội, Ban Lãnh đạo SeABank đã báo cáo cổ đông kết quả hoạt động kinh doanh trong năm 2025. Cụ thể, so với năm 2024, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng năm 2025 đạt 6.868 tỷ đồng, tăng 13,73% và hoàn thành 106% kế hoạch; tổng tài sản đạt 396.443 tỷ đồng, tăng 21,72% và hoàn thành 111% kế hoạch. Các chỉ số hiệu suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROA) và hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) lần lượt là 1,53% và 14,62%; tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng được kiểm soát ở mức 2,06%. Kết thúc năm 2025, tỷ lệ CAR riêng lẻ và hợp nhất của SeABank lần lượt đạt 13,34% và 13,39%, nằm trong nhóm các ngân hàng có CAR cao nhất hệ thống.

Ngân hàng tiếp tục được Moody’s giữ nguyên xếp hạng tín nhiệm Ba3 cho danh mục tiền gửi dài hạn, đồng thời giữ nguyên xếp hạng đánh giá tín dụng cơ sở (BCA) ở mức B1 với triển vọng phát triển Ổn định trong năm 2025. Đây cũng là năm thứ 4 liên tiếp Moody’s duy trì các đánh giá này, phản ánh nền tảng tài chính vững chắc và hiệu quả quản trị rủi ro của Ngân hàng.

Bên cạnh đó, Ngân hàng còn được vinh danh ở các giải thưởng uy tín như: Top 1000 Ngân hàng thế giới năm 2025 (#708 do Tạp chí The Banker bình chọn; BXH 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á (#277) của Fortune Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500); Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam do Anphabe công bố; ESG Business Awards 2025 do tạp chí ESG Business – Asian Banking & Finance trao tặng; …

Gia tăng nội lực, tăng cường quản trị rủi ro

Bám sát chiến lược phát triển bền vững, ĐHĐCĐ đã thông qua kế hoạch hoạt động năm 2026 của SeABank. Theo đó, Ngân hàng đặt mục tiêu: Lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, tăng 3%; Tổng tài sản tăng trưởng 10%; tăng trưởng Nguồn huy động đạt 23%; Cấp tín dụng tăng trưởng 17%; ROE đạt 13,0% và tỷ lệ nợ xấu kiểm soát theo quy định nhỏ hơn 3%.

Đặc biệt, nhằm tăng cường nội lực tài chính, ĐHĐCĐ đã thông qua phương án tăng vốn điều lệ SeABank lên 34.688 tỷ đồng bằng 2 phương án: phát hành 583,8 triệu cổ phiếu để trả cổ tức với tỷ lệ 20,5% và phát hành 40 triệu cổ phiếu cho CBQL theo chương trình ESOP. Việc tăng vốn điều lệ không chỉ giúp SeABank nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn đảm bảo các hệ số an toàn vốn (CAR) theo chuẩn mực quốc tế Basel III, tạo tiền đề vững chắc cho các hoạt động tín dụng, đầu tư công nghệ và vận hành trong năm 2026.

Đại hội cũng đã thông qua việc miễn nhiệm và bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát SeABank nhiệm kỳ 2023 – 2028. Theo đó, ĐHĐCĐ đã chấp thuận đơn từ nhiệm thành viên Ban kiểm soát của bà Vũ Thị Ngọc Quỳnh vì lý do cá nhân, đồng thời thông qua việc bầu ông Nguyễn Văn Liệu (sinh năm 1969) – chuyên gia với hơn 33 năm kinh nghiệm trong ngành tài chính – ngân hàng vào Ban kiểm soát SeABank.

Ông Liệu là Thạc sĩ Chính sách công (Đại học Tổng hợp Hitotsubashi, Nhật Bản) và Cử nhân Ngân hàng (Đại học Kinh tế Quốc dân), từng đảm nhiệm nhiều vị trí quản lý chủ chốt tại các tổ chức tài chính lớn, tiêu biểu như Trưởng Phòng Quan hệ Quốc tế, Trưởng phòng Quản lý các dự án tín dụng quốc tế tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Chuyên gia phân tích Đầu tư tài chính – Văn phòng đại diện công ty Clearwater Capital Partners; Trợ lý Hội đồng Quản trị, Trưởng phòng Quản lý rủi ro tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á; Giám đốc Pháp chế tuân thủ, quản lý rủi ro, đạo đức kinh doanh tại Ngân hàng TNHH Một Thành viên HSBC Việt Nam.

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng
Quang cảnh đại hội đồng cổ đông thường niên 2026

Việc kiện toàn nhân sự Ban kiểm soát có năng lực chuyên môn cao và am hiểu sâu sắc về quản trị rủi ro được kỳ vọng sẽ củng cố hiệu quả giám sát, tăng cường tính độc lập và minh bạch của Ban kiểm soát, đồng thời nâng cao năng lực quản trị rủi ro theo các thông lệ quốc tế. Đây cũng là bước đi quan trọng giúp Ngân hàng hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro, đảm bảo các chuẩn mực Basel III và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng an toàn.

ĐHĐCĐ SeABank năm 2026 kết thúc với sự đồng thuận cao của các cổ đông, thể hiện rõ sự tin tưởng vào định hướng chiến lược và năng lực điều hành của HĐQT và Ban Lãnh đạo Ngân hàng. Việc các nội dung trọng tâm được Đại hội thông qua, cùng định hướng nhất quán theo đuổi chiến lược phát triển bền vững gắn với các tiêu chuẩn Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) sẽ tiếp tục tạo nền tảng vững chắc để SeABank mở rộng quy mô hoạt động, củng cố năng lực tài chính và hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng ổn định, bền vững trong thời gian tới.

Được thành lập vào năm 1994, SeABank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam với hơn 4 triệu khách hàng, hơn 5.300 nhân viên và 181 điểm giao dịch trên toàn quốc. Mục tiêu của SeABank là trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu với chiến lược lấy khách hàng làm trọng tâm bằng cách cung cấp hệ thống các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng cho các cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn. SeABank được coi là một trong những ngân hàng có tầm quan trọng trong hệ thống các ngân hàng với số vốn điều lệ 28.450 tỷ đồng, được Moody’s xếp hạng Ba3 ở nhiều danh mục quan trọng, đồng thời là một trong những ngân hàng đầu tiên triển khai tiêu chuẩn quản trị rủi ro quốc tế Basel III.

Theo chiến lược phát triển “Hội tụ số”, SeABank tập trung số hóa các sản phẩm dịch vụ cũng như ứng dụng công nghệ trong hoạt động vận hành nội bộ và đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ hiện đại nhằm tối ưu hóa quy trình, gia tăng hiệu quả hoạt động, mang đến cho khách hàng trải nghiệm khác biệt về dịch vụ ngân hàng số, hướng tới mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ được yêu thích nhất.

Hồng Vân

Đọc thêm

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 27/07/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80